CHƯƠNG II NGUỒN GỐC VÀ CÁC GIỐNG GIA
CẦM CÓ Ý NGHĨA KINH TẾ
2.1 Nguồn gốc của gia cầm
Trong hệ thống phân loại động vật, gia cầm được phân loại như sau:
Nhóm động vật Animalia.
Ngành động vật có xương sống Vertebrata.
Lớp chim Aves.
Gia cầm có nguồn gốc từ các loại chim rừng, gà rừng chúng thuộc lớp chim,
có đặc điểm giải phẫu chung: hai chi trước đã biến thành cánh, thân có lông vũ che
phủ, phổi có mang ống khí và hệ thống túi khí, hô hấp kép. Tim 4 ngăn, hàm có vỏ
bọc sừng, thân nhiệt ổn định, đẻ trứng to có vỏ đá vôi, trứng được nở nhờ sự ấp của
bố mẹ.
Lớp chim có 3 nhóm, tất cả gia cầm đều thuộc nhóm chim bay (Carinatae),
gồm 25 bộ. Gia cầm thuộc 3 bộ là bộ ngỗng vịt, bộ gà và bộ bồ câu.
Bộ ngỗng vịt (Anesriformess) gồm những loài chim bơi dưới nước, chân
ngắn, có màng bơi, mỏ rộng và dẹt, lọc bùn tốt, lông dày, nhẹ, không thấm nước.
Chim non nở ra có lông phủ và khoẻ.
Bộ gà (Galliformes) gồm những loài chim như gà, gà lôi, công, trĩ chúng có
cánh ngắn, tròn nên bay kém, chân to, khoẻ, móng cùn. Mỏ ngắn, thích nghi với bới
đất tìm thức ăn. Con trống sặc sỡ, nhất là vào mùa sinh sản. Chim non nở ra có lông
che phủ và khoẻ.
Bộ bồ câu (Columbiformes) gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất
khoẻ như bồ câu, cu gáy gốc mỏ mềm chúng ăn quả và hạt là chính. Chim non nở ra
chưa có lông, chưa mở mắt và rất yếu.
Gia cầm đã được thuần hoá từ rất sớm và gắn bó với đời sống con người từ
những thế kỷ XIV - VII trước công nguyên. Các di tích khảo cổ cho thấy những
bức hoạ trên vách đá, công cụ lao động thô sơ đã có hình gà, chim trĩ, công, chim
cút Người ta cho rằng gà, vịt là một trong những loài vật nuôi được thuần hoá đầu
tiên của loài người với mục tiêu ban đầu là nuôi làm cảnh, tế thần, chọi gà và sau
cùng là sản xuất trứng và thịt. Trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu dài, loài người
đã dày công thuần hoá, chọn lọc, lai tạo thành nhiều giống gà, vịt, ngỗng v.v.. như
tổ tiên của các giống gà hiện nay (điều này cũng nhận được sự đồng tình của nhiều
tác giả khác). Nhiều tài liệu cho rằng quá trình thuần hoá xảy ra sớm nhất ở vùng ấn
Độ và ả Rập (khoảng 3200 năm trước công nguyênk): gà được nuôi để làm cảnh,
thi, chọi gà và sau đó nuôi để lấy trứng và thịt. Sự mua bán gà bắt đầu từ 1400 trước
công nguyên, khi đó gà và một số gia cầm được thuần hoá ở Trung Quốc, cùng lúc
với gà rừng đỏ theo các tàu buôn từ ấn Độ sang châu Âu. Vào những năm đầu sau
công nguyên, gà được nuôi nhiều ở vùng Tây á, Đông âu và từ đây được vận chuyển
đi khắp nơi như sang Nam Phi, Châu úc, Nhật Bản, Liên bang Nga, Xiberi và vùng
Bắc Âu. khoảng những năm 1600, người Anh sang cư trú tại Châu Mỹ và đã đem lại
theo gà này.
Giống gà rừng Bankiwa nhỏ con, khối lượng cơ thể gà giống trưởng thành
nặng 1- 1,2kg, gà mái 0,6-0,8kg, dễ dàng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Mỗi
năm đẻ 2-3 lứa, mỗi lứa 10-12 trứng với khối lượng 25-30g. Màu sắc lông thể hiện
râ giới tính, gà trống lớn hơn, đuôi dài cong vút, màu lông sặc sỡ hơn: nền nâu đỏ tía
với nhiều điểm xanh đen ở vùng ngực, vùng cổ, vùng cánh và vùng đuôi. Gà mái có
màu lông đồng nhất ít sặc sỡ hơn, thường là màu nâu đen với ít đốm vàng hoặc
trắng ở vùng cổ, hay màu vàng rơm với những chấm đen ở vùng cổ và đuôi.
Mào dâu hoặc mào hạt đậu phát triển vừa, chân màu vàng hoặc xám. Gà
bankiwa rất linh hoạt, nhanh nhẹn, lông cánh và đuôi dài nên bay dễ, thường ngủ
trên cao, sống trong vùng rừng rậm, rừng tre với thức ăn là hạt, cỏ và côn trùng, sâu
bọ. Theo Davenprt, một dạng gà rừng khác Gllus giganteus còn gọi là Ajsil (Asee)
là dạng gà nặng cân của châu á được tìm thấy ở ấn Độ, Philippin, Bruney v.v và
được thuần hoá hơn 3000 năm nay. Với tầm vóc cơ thể to lớn, nhiều nhà điểu học
cho rằng châu á là nơi thuần hoá giống gà nặng cân nhất thế giới, điển hình như
những giống brahma, kochin v.v khác xa nhóm nhẹ cân bankiwa đã mô tả.
Theo nhà điểu học người Anh Edwat Brown gà được thuần hoá ở ấn Độ, sau
đó theo chân các đoàn thương nhân sang Trung Quốc và di chuyển tiếp lên hướng
Bắc, qua Mông Cổ rồi từ đó di chuyển tiếp sang Tây Âu. Từ châu Âu lại nhanh
chóng di chuyển theo hướng Tây sang Thổ Nhĩ Kú, Bankan và các nước khác.
Chặng đường cuối cùng là từ châu Âu sang châu Mỹ và, tại đây, chúng được chọn
21 ngày.
2.1.6. Nguồn gốc chim cút
Chim Cút có ngu n g c từ chim Cun Cút ở châu á, chúng sống thích hợp với
những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng. Lần đầu tiên giống này (Coturnixcoturnix)
được thuần hoá ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ 11. Lúc đầu người ta thuần hoá chúng để
nuôi như một loại chim cảnh và chim hót, mãi cho đến năm 1900, Cút Nhật Bản mới
được nuôi rộng rãi để sản xuất thịt và lấy trứng ăn. Chim cút có cơ ngực rất phát
triển, thịt và trứng ngon, khối lượng cơ thể nhỏ, 120-140 g, lông màu xám hoa.
Trải qua thời gian dài thuần hoá và phát triển, đến nay số lượng gia cầm các
loại trên thế giới vô cùng lớn, trong đó hơn 90% là gà. Gia cầm phân bố rộng rãi
khắp trái đất, ở đâu có con người sinh sống là ở đó có gia cầm.
Các gia cầm hiện đại có cấu trúc cơ thể cũng như đặc điểm sinh lý gần giống như
các loài chim khác. Mặc dù đã được thuần hoá từ rất lâu với sự can thiệp của con
người trong chọn lọc, nhân giống, chăm sóc nuôi dưỡng nhằm làm thay đổi khối
lượng cơ thể, màu sắc lông, năng suất trứng và thịt, nhưng gia cầm vẫn còn mang
nhiều điểm chung với tổ tiên xa x- a của chúng và các loài hoang dại hiện còn tồn
tại.
2.2. Các giống gia cầm
Giống là nhóm gia cầm có cùng nguồn gốc, có những đặc điểm năng xuất và
ngoại hình giống nhau như các giống leghorn, plymouth, cornish, susex v.v
Trong một giống có nhiều dòng, đó là nhóm gia cầm phát triển trong phạm vi một
nhóm đặc trưng theo mục tiêu định trước của người chọn giống, chủ yếu theo những
tính trạng mang ý nghĩa kinh tế nhất định.
Các giống gia cầm trên thế giới rất phong phú với 150 giống gà, hơn 30
giống vịt, 25-30 giống ngỗng và khoảng 20 giống gà tây. Chúng khác nhau về ngoại
hình, khối lượng cơ thể, màu sắc và kiểu dáng bộ lông, màu sắc vỏ trứng, năng suất
trứng v.v.. Trải qua 4 thời kú phát triển, đã hình thành bốn loại giống:
Các giống xuất phát ban đầu (giống nguyên thuỷ) được hình thành do chọn lọc
tự nhiên qua nhiều thế hệ nối tiếp mang những đặc tính khác nhau do xa cách địa lý,
môi trường sống khắc nghiệt. Tuú mức độ tác động của con người mà giống nguyên
Trứng thường có màu trắng
Tăng trọng chậm
Tầm vóc và khối lượng cơ thể lớn
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng cao
Tăng trọng nhanh
Thành thục sinh dục sớm, ít hoặc không ấp
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp
bóng
Thành thục sinh dục sớm, ấp bóng mạnh
Tầm vóc thanh gọn, kết cấu cơ thể hình chữ
hơn
nhật
Tầm vóc to, kết cấu cơ thể hình vuông hay
Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản: tỷ lệ thụ
hình nêm
tinh, ấp nở, nuôi sống đều cao
Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản: tỷ lệ thụ
Thần kinh nhanh nhẹn, mẫn cảm với sự thay
tinh, ấp nở, nuôi sống đều thấp hơn.
đổi của môi trường.
Thần kinh chậm chạp, ít mẫn cảm với sự
thay đổi của môi trường.
Các giống gia cầm có đặc điểm trung gian giữa 2 loại trên là các giống kiêm dụng,
có các giống kiêm dụng thịtư trứng hay trứng - thịt.
Như đã trình bày ở trên, sau một thời gian dài dùng thịt gà broiler của các giống
siêu thịt, khách hàng nhận thấy chúng có nhiều nhược điểm: do gà lớn quá nhanh,
thời gian nuôi quá ngắn (35 ngày nặng 2,0-2,5 kg) nên chất lượng không cao, thịt
nhão, lại có mùi tanh (do ăn nhiều bột cá) Từ thập kỷ 60 trở lại đây, mở đầu là ở
Pháp, người ta phát triển chăn nuôi các giống gà cho thịt nhưng lông màu, đó là sự
đáp ứng của chăn nuôi gà thịt với nhu cầu của xã hội, ú là gà chất lượng cao, hay
sản phẩm được nâng lên không ngừng như gà leghorn, cornish, hybro, cobb, isa
brown, vịt anh đào v.v Hiện nay, do sự cạnh tranh rất quyết liệt trong sản xuất con
giống khiến hầu hết các công ty giống đều có những chiến l-ợc giống riêng nhằm
tạo ra ưu thế mạnh trên thương trường.
Để dễ dàng theo dừi trong nghiên cứu giống gia cầm, tồn tại một số cách đặt tên
giống theo sức sản xuất hoặc theo nguồn gốc địa phương được tuyển chọn, cũng có
thể gọi tên theo những đặc điểm ngoại hình như nặng cân, nhẹ cân, gà trụi, gà lùn,
vịt cổ lùn v.v.v
Các giống công nghiệp đã được dày công tuyển chọn theo hướng sản xuất chuyên
hoá sâu như chuyên thịt, chuyên trứng, kiêm dụng, gà chọi (gà đá). Hiện nay các
công ty thường đặt tên giống theo ký hiệu hoặc tên công ty để thể hiện thương hiệu
độc quyền trên toàn thế giới.
2.2.1. Các giống gà
2.2.1.1. Các giống gà nội
Việt Nam có nhiều giống gà nội được chọn lọc thuần hoá từ lâu đời như gà Ri, gà
Mía, gà Hồ, gà H’Mông, gà Tre, gà ác v.v...Một số giống trong đó có chất lượng thịt
trứng thơm ngon như gà Ri, gà Hơ Mông. Tuy nhiên, do không được đầu tư chọn
lọc lai tạo nên năng suất còn rất thấp (khối lượng xuất chuồng chỉ đạt 1,2- 1,5
kg/con với thời gian nuôi kéo dài 6-7 tháng, sản lượng trứng chỉ đạt 60-90
quả/mái/năm. Một số giống quý nhưng chỉ tồn tại ở một số địa bàn rất hẹp như gà
Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía. Việc sản xuất và cung cấp con giống diễn ra tại các hộ
gia đình chăn nuôi chủ yếu theo hình thức tự sản, tự tiêu tại địa phương. Hiện nay,
cả nước chỉ có một cơ sở nghiên cứu chọn lọc, cải tạo giống gà Ri nhưng quy mô
quần thể và đầu tư kinh phí còn rất hạn chế, giống được cải tiến chậm, chất lượng
chưa cao, số lượng đ-a ra sản xuất chưa nhiều.
Gà Ri: Gà Ri là giống phổ biến nhất ở nước ta và có phân bố rộng rãi trong cả
nước. ở miền nam còn gọi là gà Ta vàng hay gà Tàu vàng, cũng có những đặc điểm
giống như gà Ri và chúng đều có chung một nguồn gốc. Nhìn chung gà Ri pha tạp
nhiều, vì vậy nhiều người còn gọi là gà Ri pha.
Gà Ri có tầm vóc nhỏ, thân hình thanh tú, nhỏ xương, thịt thơm ngon. Màu lông
để phục vụ cho việc thờ cúng , tế lễ. Những đến nay, tục lệ này không còn giữ được,
việc giao lưu tự do đã dẫn đến tình trạng giảm sút số lượng gà thuần chủng. Gà
Đông Tảo có khối lượng cơ thể ở tuổi trưởng thành: con trống nặng 3,2 – 4,0 kg,
con mái 2,0 – 3,0 kg. Sản lượng trứng: 55-60 quả/ mái/năm. Khối lượng trứng 50-
60g/quả.
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên khoảng 200 ngày. Tỉ lệ trứng có phôi bình quân là
85%. Tỉ lệ ấp nở trên tổng số trứng đ-a vào ấp từ 60-70%. Tỉ lệ nuôi sống đến hai
tháng tuổi là 80-90%. Gà mái có tình đòi ấp như ng khả năng ấp kém vì gà nặng nề,
lên xuống ổ vụng, chân to nên trứng dễ vỡ ; gà mái dùng chân và mỏ đảo trứng
không được đều, do vậy tỉ lệ ấp nở thường thấp.
Khả năng tự tìm kiếm thức ăn của gà Đông Tảo không cao, chúng đi lại chậm chạp
quanh nhà, gà còn khoẻ mạnh nhưng khó nuôi do gà lúc nhỏ ít lông, về chết rét.
Gà Hồ : Gà Hồ còn được gọi Đông Hồ hay gà Tồ. Chúng có nguồn gốc từ làng Hồ,
nay là làng Lạc Thổ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Gà Hồ có tầm vóc tương đối lớn, ngoại hình thô, đi lại chậm chạp. Gà trống có màu
lông tía, con mái có màu nâu xám hoặc màu vàng nhạt pha màu đất sét hay ngả màu
trắng sữa, nhiều con rất giống màu lá chuối khô. Đầu hơi thô, màu nụ, mỏ và chân
vàng nhạt. Da có màu đỏ, gà con ít lông, khi lớn lông mới phủ kín thân. Nhìn chung,
gà Hồ có ngoại hình tương đối giống gà Đông Tảo, nhất là về màu lông, nhưng cơ
thể cân đối, thanh hơn, đặc biệt là chân to vừa phải.
Khối lượng cơ thể ở tuổi trưởng thành: con trống nặng 3,0 – 4,0 kg, con mái
nặng 2,0 – 3,0 kg. Sản lượng trứng 55-60 quả/ mái/năm, khối lượng 52-58g/quả.
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên khoảng 210 ngày, tỉ lệ trứng có phôi bình quân 85%. Tỉ
lệ ấp nở khoảng 60- 65% trên tổng số trứng đ-a vào ấp. Tỉ lệ nuôi sống gà con đến
hai tháng tuổi từ 80-85%.
Gà Hồ có tính đòi ấp nhưng khả năng ấp kém cũng có những nhược điểm
như gà Đông Cảo. Gà mái nuôi con không khéo, khả năng tự kiếm mồi không cao
và chúng chậm chạp hơn so với giống gà Ri. Gà giống thuần chủng hiện nay rất
hiếm.
Gà Mía : Gà Mía có nguồn gốc ở làng Mía, xã Đường Lâm, huyện Tùng Thiện nay
Nùng.. ở các tỉnh vùng núi Tây Bắc Bắc bộ.
Đặc điểm nổi bật là bộ lông pha tạp như nâu, hoa mơ, vàng sẫm nhưng chủ yếu là
màu đen. Chân, da (và nhiều con có cả mào) màu đen. Tầm vó gà vừa phải, thanh
gọn. Khối lượng gà trưởng thành trống là 1,8 -2,2 kg; mái là 1,4-1,7 kg. Sản lượng
trứng 80-100 quả/năm, khối lượng 40-45 g/quả, màu trắng. Gà H’Mông có sức
kháng bệnh rất tốt, rất thích nghi với điều kiện chăn thả tại nông hộ nhờ khả năng tự
kiếm mồi rÊt cao. Chất lượng thịt đặc biệt thơm ngon và cũng có màu đặc biệt màu
đen nên rất được thị trường ưa chuộng
Gà ác : Gà ác được thuần dưỡng phát triển đầu tiên ở các tỉnh Trà Vinh, Long An,
Kiên Giang. Đặc điểm ngoại hình: thân hình nhỏ, nhẹ, thịt xương màu đen, lông
trắng tuyền xù như bông, mỏ, chân cũng màu đen, mào cờ phát triển, màu đỏ tím
khác với các giống gà khác chân có 5 ngón nên còn gọi là gà Ngũ trảo và có lông
chiếm đa số.
Gà trên 4 tháng tuổi có khối lượng trung bình 640 -760 g. Tuổi đẻ trứng đầu tiên là
110 -120 ngày, sản lượng trứng 70 - 80 quả/mái/năm, trứng nặng 30 - 32 g (Theo
hội chănnuôi Việt nam - 2002), tỷ lệ trứng có phôi 90%, tỷ lệ ấp nở /trứng xấp xỉ
64%. Gà mái có thể sử dụng tới 2,5 năm (Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận -
2003)
Gà ác có khối lượng nhỏ, tỷ lệ ít nhưng lại là loại gà thuốc, bồi dưỡng (tỷ lệ sắt
trong thịt cao hơn gà thường 45%, tỷ lệ axít amin cao hơn 25%). Gà ác được nuôi
chủ yếu để hầm với thuốc bắc hoặc ngâm r- ợu để bồi bổ sức khoẻ và trị bệnh.
Gà trọi
Số lượng không nhiều, rải rác nhiều nơi, thường tồn tại chủ yếu ở những địa phương
có phong tục truyền thống văn hoá chơi chọi gà như tỉnh Hà tây, Hà Nội, Bắc Ninh,
Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh ( huyện Hoóc Môn )
Đặc điểm ngoại hình: Chân cao, mình dài, cổ cao, mào xuýt (mào kép) màu đỏ tía;
cựa sắc và dài (con trống có lông màu mận chín pha lông đen ở cánh, đuôi, đầu).
Tích và dái tai màu đỏ, con mái màu xám ( lá chuối khô ) hoặc màu vàng nhờ điểm
đen, mỏ và chân màu chì, mắt đen có vòng đỏ.
Gà trống 1 năm tuổi đạt 2,5 - 3 kg, gà mái 1,8 - 1,9 kg (Theo hội chăn nuôi Việt nam
Nhìn chung gà Văn Phú có tầm vóc nhỏ. Sản lượng trứng trung bình từ 60-80
quả/mái/ năm, nếu nuôi tốt có thể đạt 100 – 110 quả. Do gà có tầm vóc nhỏ nên
chúng phát dục sớm và khối lượng trứng cũng nhỏ, thường từ 30-45g. Tuổi đẻ trứng
thường từ 5-6 tháng tuổi.
Gà Văn Phú có tính đòi ấp, chúng ấp khéo và nuôi con khéo nên tỉ lệ nở và tỉ lệ nuôi
sống cũng khá cao, tương đương với gà Ri. Gà Văn Phú thuần chủng hiện nay còn
rất ít. Chúng cũng ít được các cơ quan nghiên cứu quan tâm khảo sát và tiến hành
nuôi giữ giống thuần chủng.
Gà Rốt Ri
Gà Rốt Ri được lai tạo tại Viện Chăn nuôi quốc gia từ năm 1976 đến năm 1984 và
đã được công nhận là một nhóm giống phục vụ tốt cho chă nuôi gia đình ở nông
thôn.
Từ giống gà Rôt thuần nhập từ Cuba cho lai với gà Ri thuần (có nguồn gốc gà Hải
Dương). Qua nhiều bước lai tạo và chọn lọc theo gia đình để lấy những cá thể tốt và
tạo ra đàn giống ổn định. Đến năm 1984 đàn giống đã cho kết quả phù hợp với mục
tiêu đề ra.
Kết quả được các tác giả Nguyễn Hoài Tao, Bùi Quang Tiến và cộng tác viên công
bố.
1. Khả năng sản xuất trứng
- Gà Rôt Ri cho khối lượng bình quân là 161 quả/năm.
- Gà Ri (để so sánh) cho sản lượng là 113 quả /năm.
- Gà Rôt (nuôi ở Việt Nam để so sánh) cho sản lượng 154,8 quả/năm.
2. Khối lượng trứng
- Gà Rốt Ri cho khối lượng bình quân là 49,30g/quả
- Gà Rốt cho khối lượng bình quân là 53,45g/quả
- Gà Ri cho khối lượng bình quân là 44,20g/quả
3. Thức ăn tiêu tốn để sản xuất m-ời quả trứng
- Rôt Ri (1984) tiêu tốn hết 2,833kg
- Ri (nuôi ở Viện Chăn nuôi) tiêu tốn 4,720kg
- Rôt (nuôi ở Viện chăn nuôi) tiêu tốn 2,800kg (có 16% protein thô, năng lượng trao
a. Các giống gà hướng trứng
Gà Lơ go (Leghorn)
Có nguồn gốc từ Italia do lai gà địa phương của Italia với gà Yokohama, gà Vianđôt
màu trắng bạ và gà Đôminich để tạo ra các dòng có màu lông trắng, vàng và vằn.
Nhiều nhất vẫn là dòng Lơgo trắng. Trên cơ sở đó, các nhà chọn giống đã chọn ra
giống gà có sức đẻ trứng cao, trứng vỏ trắng, trứng to và có hình dạng đẹp. Lơ go là
một giống gà siêu trứng nổi tiếng nhất thế giới, hầu hết các giống gà siêu trứng hiện
nay đều có máu của giống gà này.
Nước ta đã nhập giống gà Lơgo vào nuôi từ lâu, nhưng thường với số l-ợg ít. Đến
năm 1974 nước ta mới thực sự nhập với số lượng lớn gồm hai dòng gà thuần chính
là dòng X và dòng Y từ Cuba. Những dòng này được tạo ra từ những năm 50 ở
Canada. Hãng gia cầm Sa vơ (Shaver) bắt đầu xuất khẩu rộng rãi từ những năm
1960. Những đàn giống dòng thuần được nuôi giữ tại xí nghiệp và giống gà Ba Vì
với phương thức chọn lọc theo gia đình
Đặc điểm của dòng X (dòng trống)
Gà trưởng thành có thân hình gọn gàng, thon nhẹ, thân hơi dài. Da, mỏ và chân có
màu vàng. Chân hơi cao và không có lông ở chân. Dáng nhanh nhẹn. Lông màu
trắng hơi có ánh vàng. Mào đơn to có màu đỏ tươi, mào có năm răng cưa. Gà trống
mào thẳng đứng, gà mái mào ngả sang một bên. Dái tai màu trắng xanh.
Gà con dòng X khi mới nở lông có màu vàng sẫm hơn gà con dòng Y. Thể trọng
bình quân lúc 9 tuần tuổi gà trống nặng 700 – 800g, gà mái nặng 600 – 7000g. Đến
133 ngày tuổi là thời điểm chọn lọc, con trống có khối lượng 1700 – 1700g, con mái
1200 –1400g. Sả lượng trứng trong một năm đẻ là 260 quả. Trứng có khối lượng từ
52 – 54g. Tuổi thành thục sinh dục là 140 ngày tuổi.
Dòng X được dùng làm dòng trống trong công thức lai tạo ra gà mái thương phẩm
cho sản lượng trứng cao. Tỉ lệ chọn trứng ấp từ tuần tuổi 28 đến hết đẻ là 95%. Tỉ lệ
trứng có phôi đạt 95 – 97%. Tỉ lệ trứng ấp nở trên tổng số trứng là 75 – 85%. Tỉ lệ
nuôi sống từ 1 – 63 ngày tuổi là 96%.
Đặc điểm của dòng Y (dòng mái)
Gà trưởng thành có thân hình gọn gàng, thon nhẹ, ngoại hình đẹp. Da, mỏ, chân
Khi cho lai lai C x D để có đời mẹ, con mái CD sẽ tốc độ mọc lông nhanh.
Gà mái thương phẩm có màu nâu, 20 tuần tuổi có khối lượng cơ thể là 1670 g. Sản
lượng trứng 260-280 trứng/năm; khối lượng trứng 55-65 g/quả;trứng có vỏ màu nâu,
vỏ dày. Khi loại thải, gà mái nặng 2,1-2,3 kg.
Gà Lô man Brao
(Lohmann Brawn)
Là giống gà đẻ trứng nâu được nhập nội từ Đức. Gà mái th- ơng phẩm có lông màu
nâu. Cũng giống như hai loại gà trứng nêu trên, chúng có thể phân biệt trống mái
theo màu lông, nghĩa là loại bỏ những con đực màu trắng và giữa lại những con mái
màu nâu để nuôi lấy trứng thương phẩm.
Sau đây là khả năng sản xuất của gà mái th- ơng phẩm Lô man Brao
Sản xuất trứng
- Ngày tuổi gà đẻ dạt được tỉ lệ 50% 152 – 158 ngày
- Tỉ lệ đẻ cao nhất đạt đến 90 – 93%
Sản lượng trứng nuôi nhốt của mỗi mái
Trong 12 tháng đẻ 285 – 295 quả
Trong 14 tháng đẻ 320 – 330 quả
Tiêu thụ thức ăn
- 1 – 20 tuần (nuôi hạn chế) 7,4 – 7,8kg
- Thời kú đẻ cho ăn mỗi ngày mỗi mái. 115 – 122g
- Tiêu thụ thứcăn sản xuất ra 1kg trứng 2,3 – 2,4kg
Tỉ lệ nuôi sống
- Thời kú gà con 97 – 98%
- Thời kú gà đẻ 94- 9 6%
Khối lượng cơ thể
- Đến 20 tuần tuổi (nuôi hạn chế) 1,5 – 1,6kg
- Đến kết thúc đẻ trứng 2,2 – 2,4kg
Trong quá trình nuôi, nên chú trọng đến khối lượng cơ thể theo tuần đẻ đảm bảo gà
khoẻ mạnh, không gầy mà cũng không béo quá sẽ ảnh hưởng đến năng suất và chất
lượng trứng.
-Bình quân khối lượng trứng (g) 63
Phân loại: trên 55g có 9% trứng
55-60g 19%
60-65g 32%
Trên 65g 40%
-Thức ăn tiêu thụ kể từ 140 ngày tưổi
+ Mỗi mái trong ngày (g) 116
+ Cho 1kg trứng (kg) 2,36
+ Cho 1 quả trứng (g) 149
-Khối lượng cơ thể vào cuối thời kì đẻ(g) 2150
Đây là giống gà cao sản nên chúng cần được lu- ý đến điều kiện nuôi dưỡng,
chăm sóc và phải theo đúng quy trình chăn nuôi của hãng để đạt kết quả cao. Việc
cho gà ăn hàng ngày cần theo dâi số lượng, chất lượng thức ăn và cố gắng cho gà
đạt đến khối lượng tiêu chuẩn theo từng tuần tuổi. Khối lượng đồng đều giúp cho gà
đẻ sai , trứng đồng đều hơn …Muốn vậy ta phải diều chỉnh thức ăn tăng hay giảm
nhằm đảm bảo cho khối lượng gà nằm trong phạm vi chuẩn . Gà được cân là 10%
trong đàn và tối thiểu là 80 con trong mỗi nhà nuôi.
Sản xuất trứng của gà mái đẻ thương phẩm:
- ở 20 tuần tiếp theo gà bắt đầu đẻ được 5% và tỉ lệ đẻ tăng nhanh chóng ở các tuần
tiếp theo là 20%,48%,72%.84%.Tỉ lệ đẻ 90% và tới 92% trong suốt khoảng 10 tuần
thứ 26 – 36. Sau đó giảm chút ít và đến khi kết thúc ở 78 tuần tuổi gà đẻ đến 60%
- Khối lượng trứng trong tuần đầu là 46g và tăng dân cho đến khi kết thúc, trứng
nặng 67g.
- Tổng số trứng đẻ ra đến hết tuần tuổi 78 là 307 quả.
- Tỉ lệ chết của gà mái suốt trong thời kú đẻ trứng là 5,8%
- Đến khi kết thúc đẻ, gà mái có khối lượng 2,15kg.
- Tổng số thức ăn chi phí cho 1 con mái đẻ đến hết 78 tuần tuổi là 47kg.
- Đặc biệt, trứng ăn đựơc phân loại thường là cấp 2 -3/ 7 (các cấp theo phân loại
trứng ăn ở châu Âu).
Gà Hai lai Brao
Kết quả sinh sản của gà mái thương phẩm.
- Khối lượng cơ thể ở 126 ngày tuổi từ 1550 – 1580g
- Sản lượng trứng 12 tháng đẻ: 185 – 189 quả
- Khối lượng trứng lúc đẻ 5% : 45 – 46g
- Khối lượng trứng lúc đẻ 50%: 49,1 – 50,5g
- Khối lượng trứng ở 38 tuần tuổi: 62,4 – 63,12g
- Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng: 1428 – 1448g
- Tỉ lệ nuôi sống từ 1 – 18 tuần tuổi: 95,6 – 96,8g
- Tỉ lệ nuôi sống từ 23 – 38 tuần: 93,5 – 94,0%
Gà Ai Cập
Đây là giống gà nuôi thả vườn của Ai Cập, đã được đ-a vào Việt Nam từ tháng
4/1997. Gà Ai Cập có mào đỏ, mào đơn dựng đứng. Thân phủ lông màu đen đốm
trắng.
Thân hình nhỏ, da trắng, chân cào màu chì. Nhìn chung gà Ai Cập lớn hơn gà Ri
một chút. Khi nuôi đến ba tháng r-ỡi, gà trống nặng 1,3 – 1,5kg, gà mái nặng 1,0 –
1,1kg, đến bốn tháng rưỡi gà trống nặng 1,7 – 1,8kg, gà mái nặng 1,3 – 1,4kg.
Tuy là gà thả vườn, nhỏ nhưng năng suất trứng tương đối khá. Nuôi đẻ từ 22 – 64
tuần, gà mái cho 158 quả và tỉ lệ đẻ đạt 52,8% (Phùng Đức Tiến, 1999). Tỉ lệ nuôi
sống đàn mái đạt 91%. Gà mái bắt đầu đẻ trứng khoảng 140 ngày tuổi, sau khoảng
ba tuần gà mái đã đạt tỉ lệ đẻ tới 50% trong đàn. Trứng có màu hồng nhạt và nhỏ.
Khối lượng trứng khoảng 35 – 45g, tương đương với trứng gà Ri của ta và được
khách hàng ưa chuộng.
Trứng giống cho tỉ lệ có phôi bình quân 95% và tỉ lệ nở cao 80 – 90% trên số trứng
có phôi.
Kết quả nuôi tại hộ gia đình cho thấy ở các giai đoạn nuôi có tỉ lệ nuôi sống cao: gà
con 94%, gà dò 96% và gà sinh sản 91%. Khối lượng cơ thể gà con 650g, gà dò
1350g, gà sinh sản 142g. Năng suất trứng của mỗi con mái trong một năm đẻ bình
quân là 181 quả.
Nếu nuôi con mái đến 61 tuần tuổi thì năng suất trứng từ 146 – 163 qủa. Tiêu tốn
thức ăn để sản xuất ra 10 quả trứng từ 2,07 – 2,27kg.
lượng chứng có thể đạt được 220 – 250 quả/năm.
Gà chọn lọc theo hướng này sẽ có tuổi đẻ sớm khoảng 140 ngày đã đẻ bói. Trứng