TIỂU LUẬN
đề tài : “CÔNG TY HỢP DANH”
GVHD: GS.TS.NGND Nguyễn Thị Mơ
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
Mục lục
MỞ ĐẦU
............................................................................................................................
4
...........................................................................................................
12
Một số phòng ban khác
..................................................................................................
12
3. Một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty hợp
danh
...................................................................................................................................
13
4. Tình trạng phát triển của Công ty hợp danh tại Việt Nam
. .....................
17
KẾT LUẬN
.....................................................................................................................
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
.........................................................................................
20
Lớp A6 – Tài chính quốc tế – K46
3
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
MỞ ĐẦU
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn trong
Nhóm sinh viên
Lớp A6 – Tài chính quốc tế – K46
5
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
1. Khái quát chung về công ty hợp danh
1.1 Khái niệm về công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất là hai thành
viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên
chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có
thể có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
( khoản 1 điều 130 luật DN 2005)
1.2 Nguồn gốc của công ty hợp danh
Công ty hợp danh là một trong số những loại hình công ty điển hình
được quy định trong Bộ luật Thương mại Pháp từ năm 1807.
Yếu tố nhân thân của thành viên hợp danh được coi trọng hàng đầu khi
thành lập công ty, trong đó người ta thường chú tâm tới tổng tài sản dân sự
hơn là số vốn góp vào công ty. Đối với bên thứ ba, việc định danh các thành
viên là rất quan trọng khi thực hiện các giao dịch với công ty. Bởi vậy, cho
đến năm 1985 vẫn còn tồn tại quy định về tên của công ty phải bao gồm tên
của tất cả các thành viên hợp danh. Điều đó lý giải tại sao người ta gọi là
công
ty hợp danh.
Việc điều hành công ty do Người quản lý thực hiện. Về nguyên
Lớp A6 – Tài chính quốc tế – K46
6
Thành viên hợp danh là thành viên chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên hợp danh chỉ có thể là
cá nhân. Thành viên hợp danh không được đồng thời là chủ một doanh nghiệp
tư nhân hoặc tham gia một công ty hợp danh khác với tư cách là thành viên
hợp danh. Tất cả các thành viên hợp danh đều có quyền quản lý công ty; tiến
hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty và như vậy cùng liên đới
chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình.
Thành viên góp vốn là cá nhân hoặc tổ chức. Thành viên góp vốn có
quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ công ty. Thành
viên góp vốn không tham gia quản lý công ty và không hoạt động kinh doanh
nhân danh công ty. Họ chỉ được tham gia thảo luận và biểu quyết về việc bổ
sung, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn được quy định
trong điều lệ công ty, về việc tổ chức lại và giải thể công ty. Khi công ty giải
thể họ được chia giá trị tài sản còn lại khi công ty giải thể theo quy định trong
điều lệ công ty. Với những quyền hạn hạn chế như vậy, thành viên góp vốn có
nghĩa vụ góp đủ số vốn đã cam kết. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị số vốn đã cam kết góp vào
công ty.
Lớp A6 – Tài chính quốc tế – K46
8