Việt Nam Sử Lược Chiến Tranh Với Nước Tàu 1. Trận Bắc Lệ.
2. Đánh Phúc Châu và vây Đài Loan.
3. Trận đồn Chữ và đồn Kép.
4. Trận Yên Bạc.
5. Lấy thành Lạng Sơn.
6. Thành Tuyên Quang bị vây.
7. Mất thành Lạng Sơn.
8. Hòa ước Thiên Tân. 1. Trận Bắc Lệ.
Tại Bắc Kỳ thì quân Pháp tưởng là việc hòa ước với nước Tàu đã xong, chỉ còn
đợi ngày quân Tàu rút về, thì lên thu nhận lấy thành Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào
Kay. Cứ theo t
ờ hòa ước của trung tá Fournier ký ở Thiên Tân, thì vào chừng rằm
tháng 5 quân Tàu ở Lạng Sơn, Thất Khê và Cao Bằng phải rút về. Vậy đến cuối
tháng 5, thì thống tướng Millot sai trung tá Dugenne đem 1000 quân lên thu lại các
thành ấy. Ngày mồng một tháng 5 nhuận thì quân Pháp lên đến đồn Bắc Lệ. Khi
quân Pháp sang sông Thương, thì quân Tàu bắn vào quân Pháp, phải 3 người bị
thương. Được một chốc bên quân Tàu sai người đưa thư nói rằng đã biết có hòa
ước, nhưng chưa được lệnh rút quân về, vậy xin hoãn lại 6 ngày để đợi lệnh Bắc
Kinh. Trung tá Dugenne không chịu; đến quá trưa, trung tá cho người đưa thư
sang bảo quân Tàu rằng: trong một giờ nữa mà quân Tàu không rút về thì quân
Hải quân của Pháp vây Đài Loan và các cửa bể mãi đến tháng 6 năm Ất Dậu
(1885), nước Tàu ký hòa ước rồi, mới thôi. 3. Trận Đồn Chữvà Đồn Kép.
Trong khi hải quân của Pháp đánh phá ở mặt bể, quân Tàu ở quảng Đông, Quảng
Tây kéo sang Bắc Kỳ càng ngày càng nhiều, mà quân tiếp ứng của Pháp mãi
không thấy sang, đến trung tuần tháng 7, thống tướng Millot bèn cáo bệnh xin về,
giao quyền lại cho thiếu tướng Brière de l'Isle.
Được ít lâu, thiếu tướng Brière de l'Isle tiếp được 6 nghìn quân ở Pháp sang, số
quân bấy giờ cả thảy được non 2 vạn người, thiếu tướng bèn chia ra làm 4 đạo để
đi đánh quân Tàu và quân ta; thiếu tá Servière đem một đạo quân lên mạn Đông
Triều; trung tá Donnier đem một đạo quân theo sông Lục Nam đến đánh đồn Chũ
và đồn Đầm; trung tá Defoy đem một đạo quân lên mạn sông Thương; thiếu tá
Mibielle và thiếu tướng De Négrier thì đóng đại đồn ở Lạng Thương. Ngày 20
tháng 8, quân Pháp tiến lên đóng đồn Chũ, đồn Bảo Lạc và đồn Kép. Quân Tàu
chống lại được một ngày, mà quân hai bên đánh nhau ở đồn Kép hăng hơn cả.
Quân Tàu chết có đến 2,000 người; còn bên quân Pháp thì thiếu tướng De Négrier
bị thương ở chân, 27 người tử trận và 100 người bị thương. Quân Tàu chết hại mất
nhiều người, phải bỏ đồn Kép, đồn Bảo Lạc và đồn Chũ chạy lui trở về.
Mạn đông bắc, quân Tàu đã lui, thiếu tướng Brière de l'Isle bèn sai đại tá
Duchesne đem 700 quân lên đánh quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc ở mạn Tuyên
Quang và lại sai trung tá Berger đem quân lên giữ Thái Nguyên. 4. Trận Yên Bạc.
6. Thành Tuyên Quang bị vây.
Khi quân Pháp đi đánh mặt Lạng Sơn, thì quân Tàu và quân Cờ Đen ở mạn sông
Hồng Hà và sông Lô Giang lại kéo về đánh Tuyên Quang. Bấy giờ quân Pháp ở
trong thành cả thảy độ hơn 600 người, thuộc quyền thiếu tá Dominé. Từ đầu tháng
mười năm Giáp Thân (1884), quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã kéo về đóng ở
gần phủ Yên Bình và phủ Đoan Hùng. Đến tháng 11 thì quân Tàu giữ các chỗ
hiểm yếu, để chặn đường không cho quân Pháp ở trung châu lên tiếp ứng, rồi Lưu
Vĩnh Phúc đem quân lên đánh thành Tuyên Quang; đánh mãi đến 15 tháng chạp
mới vây được thành. Quân Cờ Đen dùng đủ kế dể phá thành, mà quân Pháp ở
trong thành cũng cố hết sức để chống giữ.
Lúc ấy quân Pháp đã lấy được thành Lạng Sơn rồi, trung tướng Brière de l'Isle liền
để thiếu tướng De Négrier ở lại giữ thành, đến ngày mồng 2 tết đem quân đi
đường đồn Chữ về Hà Nội, rồi lập tức lên cứu Tuyên Quang. Ngày 13 tháng giêng
năm Ất Dậu thì lên đến Đoan Hùng rồi sang sông Chảy. Quân Tàu và quân Pháp
giao chiến từ đó cho đến ngày 16, mới giải được vây. Trận ấy quân hai bên thiệt
hại cũng nhiều, nhưng quân Tàu không địch được quân Pháp, phải vội vàng giải
vây mà rút lên mạn ngược. 7. Mất thành Lạng Sơn.
Thành Tuyên Quang vừa giải vây xong, thì ở Lạng Sơn lại khởi sự giao chiến.
Quân Tàu tuy đã thua phải bỏ thành Lạng Sơn, nhưng quan đề đốc Quảng Tây là
Phùng Tử Tài vẫn đóng tại đồn ở Long Châu, chực sang đánh lấy lại Lạng Sơn.
Ngày mồng 6 tháng 2 năm Ất Dậu (1885), quân Tàu sang đánh Đồng Đăng, thiếu
Chính phủ Tàu thấy chiến tranh không có lợi, bèn thuận ký tờ hòa ước, và lập tức
sai quan sang Hà Nội truyền lệnh cho quân Tàu phải rút về. Ngày 27 tháng 4 năm
Ất Dậu (1883) là năm Quang Tự thứ 11, ông Patenôtre và ông Lý Hồng Chương
ký tờ hòa ước, đại lược nói rằng nước Tàu nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp ở
nước Việt Nam, và lại hòa thuận buôn bán như cũ. Nước Pháp thì trả lại các chỗ
mà hải quân đã chiếm giữ ở mặt bể, và thuận bỏ cái khoản tiền binh phí không đòi
nữa. Ngày hôm quan hai nước ký tờ hòa ước ở Thiên Tân, thì hải quân trung tướng
Courbet phải bệnh mất ở gần đảo Đài Loan. Hải quân của Pháp cũng chiếu theo
điều ước mà rút quân về. Ghi chú:
(1) Tức là ải Chi Lăng ngày trước.
Loạn Ở Trung Kỳ 1. Thống tướng De Courcy vào Huế.
2. Triều đình chạy ra Quảng Trị.
3. Nguyễn Văn Tường ra thú.
4. Xa giá các bà Thái hậu về Khiêm Lăng.
5. Quân Cần Vương.
6. Vua Đồng Khánh.
7. Thống tướng De Courcy phải triệt về.
8. Vua Hàm Nghi ở Quảng Bình.
9. Ông Paul Bert.
10. Lập Tổng đốc Toàn Quyền.