Tài liệu Đề tài “Đào tạo phát triển nguồn nhân lực việt nam trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế” - Pdf 87


Luận Văn
Đề Tài: Đào tạo phát triển nguồn nhân lực việt
nam trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế

1
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời
bước đầu đang tiếp cận dần đến nền kinh tế tri thức, do đó nến kinh tế đang
trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ.
Sự chuyển dịch kép từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công
nghiệp và nền kinh tế tri thức, đòi hỏi chung ta phải có một nguồn nhân lực

tạo kiến thức phổ thông và đào tạo kiến thức chuyên nghiệp. Trong đề án này
em chỉ xin đi sâu vào phần đào tạo kiến thức chuyên nghiệp.
1. KHÁI NIỆM:
_Đào tạo nguồn nhân lực: là quá trình trang bị những kiến thức nhất
định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận
một nghề nào đó, hay để làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc để làm
những công việc khác trong tương lai.
_Phát triển nguồn nhân lực: là toàn bộ những hoạt động tác động vào
người lao động, để người lao động có đủ khả năng phục vụ cho nhu cầu về lao
động trong tương lai.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực có phạm vi hẹp hơn, nó chính là một
nội dung của phát triển nguồn nhân lực. Đào tạo chỉ mang tính chất ngắn hạn,
để khắc phục những sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng cho những công
việc hiện tại. Còn phát triển mang nghĩa rộng hơn, nó không chỉ bao gồm vấn
đề đào tạo mà còn rất nhiều những vấn đề khác, như chăm sóc y tế, tuyên
truyền sức khoẻ cộng đồng…nhằm phát triển nguồn nhân lực trên mọi
phương diện. Về mặt thời gian, phát triển nguồn nhân lực mang tính chất dài
hạn, lâu dài hơn trong nền kinh tế.
2. PHÂN LOẠI VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA ĐÀO TẠO:
Nội dung nói chung của đào tạo gồm ba nội dung chính là:
3
_Đào tạo mới: tức là đào tạo cho những người chưa có nghề, để họ có
được một nghề nào đó trong nền kinh tế.
_Đào tạo lại: là đào tạo cho những người đã có nghề, nhưng nghề đó
hiện không còn phù hợp nữa.
_Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là đào tạo cho những người đã
có nghề, để họ có thể làm những công viêc phức tạp hơn, có yêu cầu trình độ
cao hơn.
Về phân loại đào tạo, thường thì đào tạo được phân ra làm hai loại là
đào tạo công nhân kỹ thuật và đào tạo cán bộ chuyên môn.

doanh nghiệp lớn để đáp ứng cho các doanh nghiệp cùng ngành có tổ chức
khá giống nhau.
_Đào tạo tại các trường chính quy: Nhà nước hoặc tư nhân tổ chức
các trường dậy nghề, trung tâm dậy nghề… để đào tạo một cách có hệ thống
những công nhân có trình độ lành nghề cao, cung cấp cho thị trường lao động.
Ưu điểm của phương pháp này là các học viên được đào tạo một cách
có hệ thống từ lý thuyết đến thực hành, giúp việc tiếp thu kiến thức được
nhanh chóng và dễ dàng hơn. Tạo thuận lợi cho học viên được tiếp cận những
vấn đề mới, chủ động trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh.
Nhược điểm của phương pháp này là thời gian đào tạo dài, chí phí đào
tạo lớn.
1.2 .ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHUYÊN MÔN:
Đào tạo cán bộ chuyên môn: là đào tạo trong các trường đại học, cao
đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, để người lao động có khả năng lãnh đạo,
quản lý, chỉ đạo một chuyên môn, nghiệp vụ nào đó.
Căn cứ vào trình độ đào tạo có thể phân ra làm các loại đào tạo sau:
_Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp: là đào tạo những lao động lành
nghề, biết cách sử dụng các công thức, biểu mẫu, quá trình hay các thao tác đã
được học ở nhà trường để vận hành trong thực tế.
5
_Đào tạo cao đẳng: là đào tạo cho học viên có trình độ gần như tương
đương với trình độ đại học, nhưng thiên về thực hành (như trung cấp chuyên
nghiệp) hơn.
_Đào tạo đại học: là đào tạo cho học viên có được năng lực nhận thức
quy luật nghiên cứu lý thuyết để có thể đưa ra những giải pháp vận dụng
trong thực tế.
_Đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ): là đào tạo ra những cán bộ
chuyên môn có khả năng độc lập nghiên cứu, phân tích được các quá trình, xu
hướng vận động của lý thuyết để bổ xung hoặc thay đổi lý thuyết cho thích
ứng với sự phát triển mới của môi trường.

khu vực II mới chính là khu vực tiềm năng, mang tính quyết định còn khu vực
III là khu vực mang tính chất cầu nối.
_Cơ cấu kinh tế lãnh thổ: là cơ cấu được hình thành bởi việc bố trí
sản xuất theo không gian địa lý.
Nước ta, cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ được chia thành tám vùng kinh tế
chính là: Đồng bằng sông hồng, Đông bắc, Tây bắc, Bắc trung bộ, Duyên hải
nam trung bộ, Tây nguyên, Đông nam bộ, Đồng bằng sông cửu long. Trong
đó có hai vùng kinh tế lớn là Đồng bằng sông hồng, với vùng kinh tế trọng
điểm Bắc bộ và Miền đông nam bộ với vùng kinh tế trong điểm phía nam.
_Cơ cấu kinh tế thành phần: là hệ thống tổ chức kinh tế với các chế
độ sở hữu khác nhau.
Nước ta hiện nay có sáu thành phần kinh tế là: Kinh tế nhà nước, Kinh
tế tập thể, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân, Kinh tế tư bản nhà
nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, thành phần kinh tế nhà
nước nắm vai trò chủ đạo, đảm trách những ngành kinh tế quan trọng của đất
nước, giữ vai trò cầm lái cho nền kinh tế.

7
III. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ.
1. SỰ CHUYỂN DỊCH KHÁCH QUAN CỦA CƠ CẤU LAO ĐỘNG:
Sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế sẽ làm thay đổi quy mô, tỷ trọng và
trình độ phát triển của các bộ phận cấu thành. Bộ phận kinh tế nào phát triển
nhanh hơn sẽ lôi kéo và đòi hỏi cao hơn các nguồn lực phục vụ cho sự phát
triển của nó.
Lực lượng sản xuất, mà trong đó con người là trọng tố cũng không nằm
ngoài quy luật này. Nó cũng sẽ đòi hỏi và thu hút nhiều lao động hơn, đòi hỏi
trình độ lao động cao hơn. Như vậy, sẽ làm thay đổi quy mô, tỷ trọng và trình
độ của lao động trong các bộ phận kinh tế cấu thành. Điều đó tất yếu sẽ dẫn
đến sự chuyển dịch về cơ cấu lao động.

Còn khi nền kinh tế chuyển tiếp
từ nền kinh tế công nghiệp sang nền
kinh tế tri thức, lúc này trình độ khoa
học kỹ thuật phat triển ở mức cao, máy
móc thiết bị đã dần thay thế cho các
hoạt động sản xuất của con người, do
đó, nhu cầu về công nhân kỹ thuật đã
dần giảm xuống.
Mặt khác, thu nhập và mức sống của con người trong nền kinh tế tri
thức đã ở mức cao, vì vậy, những đòi hỏi của họ cung lớn và đa dạng hơn
trong nghỉ ngơi, giải trí, đòi hỏi các ngành công nghệ, dịch vụ phải được mở
rộng và phát triển hơn. Do đó, tất yếu sẽ làm tăng nhu cầu về lao động trí thức
có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao.
Lúc này, cơ cấu nhu cầu về lao
động sẽ không còn ở dạng “hình tháp
nhân lực công nghiệp truyền thống”
nữa, mà đã biến đổi sang kiểu “hình
tháp nhân lực tri thức”
Tức là, vẫn cần nhiều công nhân
kỹ thuật nhưng giảm hơn so với nền
9
kinh tế công nghiệp, đồng thời đòi hỏi
một lượng lớn lao động có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ cao.
Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cách phân chia của Martin Trow, một
học giả người Hoa Kỳ (cách phân chia này đã được chấp nhận rộng rãi trên
thế giới).
Nếu ở một nước có “tỷ lệ độ tuổi đại học”(tức là tỷ lệ sinh viên đại học
so với số thanh niên ở độ tuổi từ 18 đến 21) dưới 15% thì đào tạo đại học ở
nước đó còn trong giai đoạn “cho số ít người”, khi tỷ lệ đó vượt quá 15% thì

đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp khá phát triển, đã
đưa nền kinh tế nước ta chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên
nền kinh tế công nghiệp và hiện đang ở khoảng giữa của quá trình chuyển
dịch.
Mặt khác, tác động của quá trình toàn cầu hoá và xu hướng chuyển nền
kinh tế thế giới từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đã làm
phát triển một số ngành dịch vụ và công nghệ cao ở nước ta như ngân hàng,
tài chính, công nghệ thông tin... Điều đó chứng tỏ nước ta cũng đang ở điểm
khởi đầu của quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức.
Như vậy, nền kinh tế của ta đang diễn ra quá trình chuyển dịch kép,
một mặt, vừa chuyển dịch lên nền kinh tế công nghiệp và đang ở khoảng giữa,
đồng thời, lại vừa chuyển dịch lên nền kinh tế tri thức và đang ở điểm khởi
đầu của sự chuyển dịch.
Chính đặc điểm này đã làm cho nền kinh tế có nhưng đòi hỏi cao hơn
và phức tạp hơn về nguồn nhân lực nhằm phục vụ cho sự phát triển và chuyển
dịch của nó.
Trước tiên và chung nhất nó đòi hỏi nguồn nhân lực phải có một mặt
bằng chung về trình độ cao hơn. Khác với trước kia trong nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung, chỉ đòi hỏi người lao động phải có đức tính tốt, cần cù,
trung thành, và có tinh thần trách nhiệm. Với ngày nay, nền kinh tế đòi hỏi
11
người lao động phải có tính sáng tạo, có khả năng xử lý vấn đề, có khả năng
phân tích, tinh thần đồng đội, rồi khả năng ăn nói, diễn đạt… Tức là phảI có
một trình độ, năng lực ở mức khá trở lên.
Đấy là xét chung cho nguồn nhân lực, còn cụ thể, quá trình chuyển dịch
lên nền kinh tế công nghiệp của nước ta, như đã phân tích ở mô hình lý thuyết
trên, sẽ đòi hỏi một nguồn nhân lực có cơ cấu theo mô hình “hình tháp nhân
lực công nghiệp truyền thống” và trình độ đào tạo đại học đại chúng.
Tức là phải có tỷ lệ độ tuổi đại học trên 15%, trong khi tỷ lệ này của
nước ta hiện nay chỉ đạt khoảng 8%. Như vậy, cần phảI mở rộng quy mô đào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status