Nhà Trần
Tổ chức quân đội
Quân chủ lực nhà Trần gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng
bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh. Cấm quân được gọi
là quân túc vệ.
Các đơn vị quân đội được gọi là quân. Đứng đầu mỗi quân là một đại
tướng quân. Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội.
Mỗi đô có 5 ngũ, đứng đầu mỗi ngũ là đầu ngũ.
Cấm quân là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm, có
thể được điều động đi các lộ để tác chiến.
Nhằm có lực lượng đông đảo cần thiết khi chống xâm lược, nhà Trần kế
tục chính sách ngụ binh ư nông (giữ quân lính ở nhà nông) của nhà Lý,
vừa đảm bảo số quân cần thiết phòng khi có chiến tranh xảy tới. Quân
cấm vệ và các lộ có khoảng 10 vạn người
[2]
.
Hành chính
Đền nhà Trần (Nam Định)
Đời nhà Trần, Việt Nam chia ra làm 12 lộ, Đại Việt sử ký toàn thư
(ĐVSKTT) chép như sau:
Nhâm Dần, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 11 1242: Mùa xuân,
tháng 2, chia nước làm 12 lộ. Đặt chức an phủ, trấn phủ, có 2 viên
chánh, phó để cai trị. Các xã, sách thì đặt chức đại tư xã, tiểu tư xã.
Từ ngũ phẩm trở lên là đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống là tiểu tư
xã. Có người làm kiêm cả 2-4 xã, cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi
là xã quan.
Mỗi lộ đều có quyền dân tịch để kiểm soát dân số trong lộ. Dân chúng
trong nước được chia ra làm 3 hạng: hạng tiểu hoàng nam (từ 18 tuổi đến
20 tuổi), hạng đại hoàng nam (từ 20 tuổi đến 60 tuổi) và hạng lão (trên 60
tuổi). Lúc đầu chỉ có những người trong hoàng tộc mới được giữ các chức
quan nhưng từ đời vua Anh Tông, những người tài đức cũng được tuyển
Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu.
Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những
người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng
nương.
Về mặt thuế má: Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền. Thuế thân được
đóng bằng tiền và ít nhiều tuỳ theo số ruộng có. Ai có dưới một mẫu
ruộng thì được miễn thuế. Thuế điền thì đóng bằng thóc. Ngoài ra còn có
thuế trầu cau, rau quả, tôm cá v.v. Về mặt tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng -
vàng, bạc được đúc thành phân, lượng và có hiệu của nhà vua.
Giáo dục, thi cử
Đời nhà Trần, văn học rất được mở mang, Nho học cũng phát triển hơn so
với thời Lý.
Ngoài Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm
Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở
trường học để dạy cho dân chúng.
Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử
nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài
giỏi ra giúp nước chứ chưa có mở định kỳ. Năm 1232, vua Trần Thái
Tông cho mở khoa thi thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm
thì có một kỳ thi. Năm 1247, nhà vua lại cho đặt ra khảo thi tam khôi để
lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Lê Văn Hưu là người đầu tiên
đậu bảng nhãn.
Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính
thức và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ
[3]
. Có 2 khoa thi 1256 và 1266 lấy
2 trạng nguyên là Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên nên tổng số có
12 người đỗ đầu trong các kỳ thi.
Tôn giáo
Về Phật giáo, vào đầu đời nhà Trần thì Phật giáo còn thịnh. Các nhà vua
.
Âm nhạc Đại Việt thời Trần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Chiêm Thành và
Trung Quốc
[5]
. Một số nhạc công bị bắt từ Chiêm Thành và Trung Quốc
trong các cuộc chiến đã truyền nghề ca hát cho dân Đại Việt, càng ngày
càng phổ biến.