Tài liệu Mở rộng lãnh thổ về phương Nam - Pdf 87

Mở rộng lãnh thổ về phương Nam( Nam tiến )
Nam tiến (chữ Hán: 南南) chỉ sự phát triển lãnh thổ của người Việt về
phương nam trong lịch sử Việt Nam.
Lãnh thổ Việt Nam đã được mở rộng từ Bắc vào Nam qua từng thời kỳ
trong lịch sử. Thời kỳ đầu, lãnh thổ Việt Nam bao gồm khu vực châu thổ
sông Hồng (Đồng bằng Bắc bộ hiện nay). Do đặc điểm địa-chiến lược,
trong tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam mở rộng lãnh
thổ sang phía Đông thì gặp biển, phía Tây thì bị các dãy núi hiểm trở của
dãy Trường Sơn ngăn cản, phía Bắc là lãnh thổ của người khổng lồ Hán,
nên chỉ có thể lần lượt chinh phục và khai phá về phương Nam. Hành
trình Nam tiến kéo dài gần 700 năm, nâng diện tích lãnh thổ từ ban đầu
độc lập đến khi hoàn thành lên 3 lần, từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18 lãnh
thổ Việt Nam về cơ bản được hình thành và tồn tại như hiện nay.
Sát nhập Chiêm Thành
Nhà Lý-Trần-Hồ
Đây là thời kỳ thường xuyên có các cuộc giao tranh giữa Đại Việt với
Chiêm Thành ở phía nam. Phần thắng thường thuộc về Đại Việt, vốn là
nước mạnh hơn.
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh mang 10 vạn quân vào đánh
Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Củ (Jaya
Rudravarman). Chế Củ buộc phải dâng đất của ba châu Bố Chính, Địa Lý
và Ma Linh cầu hòa. Vua Lý Thánh Tông đặt tên cho vùng đất mới này là
trại Tân Bình, lãnh thổ Đại Việt thêm vùng đất này, nay là Quảng Bình và
bắc Quảng Trị.
Năm 1306, thuộc vào một giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối
giao hảo tốt đẹp, nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm
Thành bấy giờ là Chế Mân (Jaya Simhavarman) . Đổi lại Chế Mân dâng
đất cho Đại Việt gồm Châu Ô và Châu Rí. Các vùng đất này được vua
Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu, nay thuộc vùng nam
Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, lãnh thổ Đại Việt phía nam tới đèo Hải
Vân

làm phủ Thái Ninh, sau đổi làm phủ Diên Khánh, nay thuộc Khánh Hòa.
Tại đây đặt dinh Thái Khang để Hùng Lộc làm thái thú.
Năm 1693 với lý do vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh (Po Saot) bỏ
không tiến cống, chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai quan tổng binh là
Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh bắt được Bà Tranh cùng thân thuộc
về Phú Xuân (Huế). Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận Phủ,
nay thuộc Bình Thuận. Đất này cho con cháu của Bà Tranh làm đề đốc
trấn giữ, bắt đổi y phục như người Việt Nam để phủ dụ dân Chiêm
Thành.
Tuy nhiên, do sự kháng cự của người Champa và cũng cần tập trung cho
việc khai phá đất Nam bộ của Chân Lạp nên qua năm 1697, chúa Nguyễn
đổi Thuận Phủ ra làm Thuận Thành Trấn, dành cho người Chăm cơ chế tự
trị nhưng vẫn thuộc sự bảo hộ của chúa Nguyễn. Đến năm 1832, vua
Minh Mạng xóa bỏ cơ chế tự trị trên và lập thành tỉnh Bình Thuận.
Xâm chiếm Chân Lạp
Chúa Nguyễn
Việt Nam thời Trịnh - Nguyễn phân tranh năm 1650
Trong thời kỳ này, nhiều dân Việt ở Đàng Trong bỏ dải đất miền Trung
khắc nghiệt, vào khai khẩn đất làm ruộng ở Bà Rịa, Đồng Nai, Sài Gòn
vốn là đất của Chân Lạp, nhưng không gặp phản kháng gì đặc biệt.
Năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên nhân quan hệ hữu hảo với vua
Chân Lạp Chey Chetta II (cha vợ - con rể), đã mượn vùng đất Prey Nokor
(Sài Gòn ngày nay) của Chân Lạp đặt trạm và quan chức thu thuế lưu dân
Việt đang sinh sống xung quanh ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa
Năm 1658, vua nước Chân Lạp mất, nội bộ nước Chân Lạp lục đục vì
tranh giành ngôi. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã giúp một hoàng thân Chân
Lạp là Batom Reachea lên ngôi, đáp lại vị vua mới của Chân Lạp đã ký
hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàng năm và cho phép người Việt được
làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa. Tại khu
vực này lưu dân Việt sinh sống ngày càng đông đúc, chúa Nguyễn đã phải

Tổng binh, cai quản đất Hà Tiên. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ
lại được làm chức đô đốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đắp
thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và đưa người về dạy Nho học để khai
hóa đất Hà Tiên.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status