Tài liệu Phân tích quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (p3) - Pdf 88

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau Đại hội toàn quốc lần thứ IX chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới thời
kỳ “đầy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ” định hướng phát triển nhằm
mục tiêu “xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao quốc phòng an ninh vững chắc,
dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”. Không phải ngẫu nhiên việc nghiên
cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới chủ
nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến hành hôm nay. Việc thực hiện mô hình này trong
thực tế không những là nội dung của công cuộc đổi mới, mà hơn thế nữa nó là công
cụ, là phương tiện để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội ở nước ta một phần phụ thuộc vào việc xây dựng này tốt hay không.
Một xã hội phát triển được đánh giá từ trình độ của lực lượng sản xuất và sự kết hợp
hài hoà giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất thời đại ngày nay trình độ khoa
học kỹ thuật đã phát triển mạnh mẽ song quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất của
lực lượng sản xuất vẫn là cơ sở chính cho sự phát triển của nó. Do vậy vấn đề quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
vẫn là một trong những vấn đề nan giải mà chúng ta cần phải quan tâm và giải quyết.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng lực lượng sản xuất có vai trò
quyết định đối với quan hệ sản xuất và ngược lại, có thể thúc đầy hoặc kìm hãm sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Vấn đề này từng là bài học đắt giá trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sự tác động trở lại của các yếu tố của quan hệ
sản xuất đối với lực lượng sản xuất khá phong phú và phức tạp, nhất là trong những
điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay.
Vấn đề quan hệ sản xuất có tác động thúc đầy hay kìm hãm sự phát triển của
lực lượng sản xuất đã được Đảng ta nhận thức và vận dụng đúng đắn trong quá trình
lãnh đạo đất nước theo đường lối đổi mới. Đảng ta đã khẳng định rằng: lực lượng sản
xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan
hệ sản xuất phát triển khong đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát


đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp phát triển. trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta “lấy việc phát huy nguồn lực con
người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, coi việc “Nâng cao dân
trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Đảng cộng sản Việt
Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII). Do vậy, khai thác, sử dụng và
phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện thành công quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Trình
độ lực lượng sản xuất thể hiện trình độ trinh phục thiên nhiên của con người trong một
giai đoạn lịch sử nhất định. Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với
tư liệu sản xuất.
Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, sử dụng
tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và
tư liệu lao động khác cần thiết cho việc chuyển, bảo quản sản phẩm ....
Trong thời đại ngày nay, khoa khọc đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Nó vừa là ngành sản xuất riêng. Vừa xâm nhập vào yếu tố cấu thành lực lượng sản
xuất, đem lại sự thay đổi về chất của lực lượng sản xuất. Các yếu tố cấu thành lực

3
lượng sản xuất tác động lẫn nhau một cách khách quan, làm cho lực lượng sản xuất trở
thành yếu tố động nhất.
Sự tác động của cách mạng khoa khọc và công nghệ cùng với đòi hỏi tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững đang đặt ra những yêu cầu mới cho việc khai thác
và phát huy tiềm năng của con người. Quá trình tìm kiếm những cách thức, giải pháp
nhằm sử dụng và phát triển nguồn lực quan trọng này đang diễn ra ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới. Do đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau nên mỗi nước đều có giải
pháp và bước đi khác nhau trong trong từng thời điểm lịch sử cụ thể. Tuy nhiên, gắn
với những tác động của cuộc cách mạng khoa khọc và công nghệ, xu hướng phổ biến
của sự phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đều

hoạt nguồn nhân lực.
Dước tác động của cách mạng khoa học công nghệ, việc áp dụng rộng rãi tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất làm cho số người dôi ra và phải đổi nghề ngày càng nhiều
hơn. Quá trình đó đồng thời còn làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn đi đôi
với sự tăng trưởng về việc làm. Tình hình đó đặt ra những thách thức trực tiếp trong
quá trình sử dụng nguồn nhân lực. Một mặt, phải nâng cao hiệu quả hoạt động của
từng cá nhân và toàn xã hội trên cơ sở nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn nghề
nghiệp, mặt khác, phải giảm đến mức tối thiểu số người thất nghiệp hoặc không có
viếc làm trong toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, chỉ có trên cơ sở áp dụng các hình thức,
biện pháp tổ chức và quản lý lao động linh hoạt mới có thể vượt qua được thách thức
ấy.
Thứ năm, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực là một xu
hướng phổ biến trong điều kiện cách mạng khoa khọc công nghệ hiện nay.
Với sự phát triển của công nghệ mới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện
nay đang tạo ra sự phát triển mới của quá trình sản xuất. Xu hướng khu vực hoá, quốc
tế hoá, toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng chủ đạo. Sự xuất hiện của các Công ty
xuyên quốc gia đã làm cho sự phân công và hiệp tác lao động ngày càng phát triển từ
quy mô Xí nghiệp đến tập đoàn, từ quy mô quốc gia đến liên quốc gia, đa quốc gia ...
Điều đó đang làm xuất hiện nhu cầu và khả năng thực hiện các hình thức hợp tác quốc
tế về phát triển nguồn nhân lực.
2. Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất xã hội là quan hệ kinh tế giữ người với người trong quá trình
sản xuất và tái sản xuất xã hội: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng. Quan hệ
sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế – xã hội và quan hệ kinh tế tổ chức.

5
Quan hệ kinh tế – xã hội biểu hiện hình thức xã hội của sản xuất, nó biểu hiện
mối quan hệ giữa người với người trên ba mặt chủ yếu:
Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chưc, quản lý sản xuất và quan hệ
phân phối sản phẩm, trong đó quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status