Tài liệu Các câu hỏi thường gặp về thị trường chứng khoán - Pdf 90

Các câu hỏi thường gặp về thị trường chứng khoán
Hỏi: Xin quý vị giải đáp các trường hợp sau:

1. Công ty A là Công ty cổ phần đại chúng nắm 25% vốn cổ phần tại một công ty cổ
phần đại chúng khác (công ty B). Khi công ty B tăng vốn với quyền mua 1/1. Hội
đồng quản trị công ty A có ý định cho cổ đông Công ty A góp thẳng phần tăng vốn
1/1 theo tỷ lệ tương ứng với số cổ phần mà cổ đông Công ty A đang nắm giữ. Vậy
trường hợp này có hợp pháp không? Hội đồng quản trị công ty B có quyền làm khó
cổ đông công ty A không?.
2. Công ty A đang nắm giữ 90% cổ phần trong 1 công ty TNHH (Công ty C), 10%
còn lại do một pháp nhân khác nắm giữ. Hội đồng quản trị Công ty A quyết định
chuyển công ty C thành công ty cổ phần và khi công ty cổ phần C tăng vốn thì
HĐQT công ty A có ý định cho cổ đông công ty A góp thẳng phần tăng vốn theo tỷ
lệ tương ứng với số cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Vậy trường hợp này có hợp pháp
không?.
Trả lời: Theo quy định tại Điều 87, khoản 2, điểm c Luật Doanh nghiệp quy định:
“Trường hợp công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán số cổ phần đó cho
tất cả cổ đông phổ thông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty thì: Cổ đông có
quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác.”
Như vậy, việc công ty A chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của công ty B cho các cổ đông
của mình (công ty A) là không trái pháp luật. Tuy nhiên, trường hợp này cũng cần phải
xem xét Điều lệ của Công ty A có cho phép Hội đồng quản trị hay Đại hội cổ đông quyết
định việc chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của công ty cho người khác (cụ thể ở đây là
cổ đông của công ty A) hay không. Việc chuyển nhượng này phải tuân thủ theo quy
định của pháp luật hiện hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
2. Trường hợp câu hỏi thứ hai cũng tương tự như trên.Tôi muốn hỏi hiện nay TTGDCK TP.HCM đang sử dụng những loại
lệnh giao dịch nào.


- Trường hợp không có lệnh ATO:

Tích luỹ

Mua

Giá

Bán

Tích luỹ

10.000 10.000 30.000 10.000 34.500
15.500 5.500 29.000 15.000 24.500
22.500 7.000 28.000 4.000 9.500
25.500 3.000 27.000 3.000 5.500
34.000 8.500 26.000 2.500 2.500
Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng.
- Trường hợp có lệnh ATO và giá tham chiếu của lần khớp lệnh trước đó là 26.000
đồng:

Tích luỹ Mua
Giá
Bán Tích luỹ
13.000 10.000 30.000 10.000 31.500
18.500 5.500 29.000 21.500
25.500 7.000 28.000 21.500
25.500 27.000 10.000 21.500
25.500 26.000 10.500 11.500
3.000 ATO 1.000

nhuận của công ty được coi là nhân tố quan trọng nhất tác động tới giá cổ phiếu. Những
nhà kinh doanh và nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu chủ yếu dựa trên cơ sở dự đoán về mức
thu nhập. Tuy nhiên, giá cổ phiếu không phải lúc nào cũng có mối quan hệ chặt chẽ với thu
nhập. Có những thời điểm, giá cổ phiếu tăng nhanh hơn thu nhập; vào những thời điểm
khác, nó bị tụt lại đằng sau thu nhập. Đôi khi trên thực tế, nó lại biến động theo chiều
hướng ngược lại với thu nhập. Do vậy, dù một người theo dõi rất sát thị trường đã dự đoán
đúng xu hướng thay đổi của thu nhập, nhưng không có gì bảo đảm rằng anh ta có thể dự
đoán chính xác xu hướng biến đổi của giá cổ phiếu.
Cổ tức, những người theo trường phái này cho rằng cổ tức là nhân tố cơ bản, chủ
yếu thứ hai sau thu nhập, trong việc xác định giá chứng khoán. Thực chất điều này không
khác gì một câu thành ngữ cổ xưa “1 con chim trong nhà có trị giá bằng 2 con chim trong
rừng”. Tuy nhiên, cổ tức không đóng vai trò quan trọng đối với loại cổ phiếu tăng trưởng
là loại cổ phiếu mà người ta coi sự tăng giá của chúng là rất quan trọng, thường xuyên
mang lại lợi suất đầu tư cuối cùng lớn hơn nhiều so với cổ tức hiện tại. Một công ty tăng
trưởng có khả năng sử dụng số vốn này có hiệu quả hơn cho các cổ đông, là những người
luôn phải tìm kiếm cơ hội đầu tư. Trong tất cả các nhân tố báo chí sử dụng để giải thích về
sự biến động giá hàng ngày của từng cổ phiếu, các thông tin về cổ tức luôn được xếp ở vị
trí quan trọng gần đầu.
Lãi suất, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn thay đổi.
Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay đổi theo lãi suất và chúng ta
không thể chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này có làm tăng hay bù đắp cho
mức biến động về lãi suất hay không. Để giải thích rõ vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét các
khả năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm phát tăng, cụ thể như sau:
Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng vì công
ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí. Trong trường hợp này, giá cổ
phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ suất lợi nhuận đã được đền
bù một phần hay toàn bộ bởi phần tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ tức.
Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi rất ít do công ty không có khả
năng tăng giá để phù hợp với chi phí tăng, do vậy, giá cổ phiếu giảm. Tỷ suất lợi nhuận
quy định có thể tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức là không đổi, nên mức chênh lệch

hàng hoá với tư cách là một chỉ số của giá chứng khoán tỏ ra không đáng tin cậy và có lẽ là
không có giá trị.
Các yếu tố kinh tế khác
Trong những năm gần đây, các chỉ số hàng đầu thường được các nhà dự báo chứng
khoán nhắc tới bao gồm số liệu về việc làm, những thay đổi về hàng tồn kho, và những
biến động về lượng cung tiền. Lãi suất cơ bản (thường là lãi suất trái phiếu chính phủ)
trong những năm gần đây đã thu hút sự chú ý đáng kể cho dù từ lâu nó chỉ được coi là một
nhân tố không đáng kể chứ không phải là nhân tố hàng đầu. Bởi vì giá chứng khoán là một
trong những chỉ số được coi trọng nhất trong 12 chỉ số hàng đầu, nên các nhà dự báo cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status