Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng không ở công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam-VINARE” doc - Pdf 90



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Một số biện pháp nhằm thúc
đẩy hoạt động nhận tái bảo
hiểm nghiệp vụ bảo hiểm
hàng không ở công ty tái bảo
hiểm quốc gia Việt Nam-
VINARE

75
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như vũ bão, xu
hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra mối liên hệ
và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia. Vận tải hàng
không có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và buôn bán
quốc tế nói riêng. Hơn nữa, vận tải hàng không còn là chiếc cầu nối gi
ữa các
nền văn hoá của các dân tộc, là phương tiện chính trong du lịch quốc tế, là mắt
xích quan trọng trong quy trình tổ chức vận tải đa phương thức quốc tế.
Để khôi phục, phát triển kinh tế hay mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với
các quốc gia trên thế giới, vận tải hàng không là chiếc cầu nối nhanh nhất,
thuận tiện nhất và được xem như một chất xúc tác cho hoạt độ
ng kinh tế diễn
ra nhanh hơn.
Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu giao lưu
bằng đường hàng không cũng tăng lên không ngừng. Trên thực tế, ngành Hàng
không dân dụng đã tự khẳng định mình là một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn đại diện cho phương thức vận tải tiên tiến và hiện đại nhất, ngày càng
đóng vai trò to lớn và có ảnh hưởng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh
tế

chuyên đề, khoá luận này sẽ trình bày một số nét khái quát về bảo hiểm hàng
không bên cạnh những vấn đề chính và cơ bản về kỹ thuật tái bảo hiểm. Trên
cơ sở đó tập trung vào phân tích hoạt động nhận và tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo
hiểm hàng không ở VINARE. Phần cuối của khoá luận sẽ đề xuất một số các
giải pháp và kiến ngh
ị với hy vọng sẽ khắc phục khó khăn và tồn tại của
VINARE và một số doanh nghiệp bảo hiểm gốc gặp phải trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Nội dung của khoá luận gồm 3 chương như sau:
Chương I
: Lý luận chung về bảo hiểm hàng không và tái bảo hiểm hàng
không.
Chương II
: Thực trạng hoạt động nghiệp vụ tái bảo hiểm hàng không ở
công ty VINARE.
Chương III
: Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng bảo hiểm, tái
bảo hiểm hàng không.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Nguyễn Hoàng
Ánh – giảng viên Khoa Kinh Tế Ngoại Thương trường Đại học Ngoại Thương

77
đã chỉ bảo và giúp đỡ em tận tình trong quá trình làm khoá luận: từ khi lập đề
cương đến lúc hoàn thành bản thảo.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG VÀ TÁI
BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG.
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM HÀNG
KHÔNG.
1.Giới thiệu chung về tái bảo hiểm

n chủ nghĩa đã có
những bước tiến nhảy vọt do áp dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất. Quan hệ thương mại giữa các nước được mở rộng và
phát triển mạnh. Do đó hình thức hợp đồng tái bảo hiểm trao đổi qua lại giữa
các nhà bảo hiểm như trên không còn đáp ứng được nhu cầu. Điều này dẫn đến
sự tất yếu khách quan cho việc thành lập các công ty tái bảo hiểm chuyên
nghiệp. Năm 1846 tại Kohn (Đức) công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên
đã ra đời lấy tên là công ty tái bảo hiểm Kohn (KolnischeRuck AG). Tiếp theo
đó một số công ty bảo hiểm có tên tuổi trên thị trường tái bảo hiểm thế giới
hiện nay cũng đã được thành lập như: Công ty tái bảo hiểm Thuỵ Sỹ (Swiss
Re) năm 1963; Công ty tái bảo hiểm London (London Guarantee Reinsurance
Co.Ltd năm 1869); Công ty tái bảo hi
ểm Munich Re (Munchences Ruck. AG)
năm 1880.
Trong thời kỳ này có nhiều hình thức và phương pháp tái bảo hiểm được
xây dựng, kỹ thuật tái bảo hiểm cũng được cải tiến. Tuy nhiên, do ảnh hưởng
của hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế, lạm phát
tiền tệ đã làm tổn hại lớn đến sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và tái
bảo hiểm nói riêng. Bị tổ
n hại nhiều nhất có lẽ phải kể đến các công ty tái bảo
hiểm Đức. Trong khi đó các công ty tái bảo hiểm quốc tế như công ty tái bảo
hiểm Thuỵ Sỹ đã phát triển lên thành một lên công ty tái bảo hiểm đồ sộ. Ngoài
ra, trong thời gian này cũng có rất nhiều công ty tái bảo hiểm ra đời, nhất là ở
Mỹ, Thuỵ Sỹ…
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc trưng cơ bản củ
a sự phát triển hoạt
động tái bảo hiểm được thể hiện thông qua những biến động lớn sau:
- Các công ty tái bảo hiểm của CHLB Đức phục hồi nhanh chóng.

79

công ty cùng bảo hiểm cho một đối tượng tham gia, tuy nhiên hình thức này có
hai nhược điểm lớn đó là:

80
- Việc ký kết hợp đồng thường bị kéo dài mất hết cơ hội kinh doanh.
- Nếu tổn thất xảy ra, rất khó tập trung bồi thường dẫn đến tình trạng đối
tượng tham gia bảo hiểm dễ nghi ngờ khả năng tài chính của công ty bảo hiểm.
Chính vì vậy cần có hình thức thích hợp hơn, đó chính là tái bảo hiểm, trong
hình thức này công ty hiểm ban đầu là công ty gốc (hay công ty nhượng tái bảo
hiể
m) các công ty còn lại là các công ty tái bảo hiểm hay công ty nhận tái bảo
hiểm.
Tái bảo hiểm có bốn tác dụng chủ yếu sau:

- Phân tán rủi ro nhanh để tránh phá sản góp phần ổn định tài chính cho
công ty gốc.
- Góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và tăng ngoại tệ
cho các quốc gia.
- Công ty gốc còn nhận được một tỷ lệ phần trăm hoa hồng nhất định
tính trên phí tái bảo hiểm đồng thời nó còn tăng uy tín cho công ty gốc.
- Tái bảo hiểm ra đời còn góp phần thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại
của các quốc gia.
Như
vậy, sự ra đời của tái bảo hiểm là một tất yếu khách quan nhằm mục
đích thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của thị trường bảo hiểm đầy triển vọng của
các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung.
2.Bảo hiểm hàng không
2.1.Khái niệm về bảo hiểm hàng không
Bảo hiểm hàng không là tổng hợp của bảo hiểm tài sản thân máy bay và
bảo hiểm trách nhiệm dân sự trên các đ

Việ
t Nam, để bảo đảm cho hoạt động bình thường của ngành hàng không,
ngoài máy bay còn cần rất nhiều yếu tố như đường băng, sân đỗ, thiết bị phục
vụ hạ cất cánh, thiết bị bảo đảm an toàn của sân bay, hệ thống điều hành chỉ
huy bay, hệ thống cung cấp nhiên liệu cho máy bay, hệ thống kho tàng cung
cấp phụ tùng cho máy bay…mà hầu hết đều phải nhập của nước ngoài với giá
trị rất lớn.
Ví dụ: 1ra đa phục vụ cho điều hành bay từ 1-2 triệu USD, xe đặc chủng
từ 0,5-1 triệu USD, xe tiếp nhận nhiên liệu 1 triệu USD, hệ thống phù trợ

82
không vận từ 2-3 triệu USD, máy bay loại B747- 400 là 150 triệu USD, B767-
300 là 85 triệu USD, A320 là 45 triệu USD…
Như vậy giá trị bảo hiểm của các đối tượng bảo hiểm trong ngành hàng
không rất lớn. Do vậy, nếu xảy ra tai nạn thì hậu quả không thể lường trước
được, chỉ cần một vụ tai nạn máy bay xảy ra cũng đủ làm một hãng Hàng
không phá sản. Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng các tai nạn máy bay vẫn xảy ra,
dù là rấ
t ít. Thường là các hãng hàng không tai nạn dẫn đến tổn thất toàn bộ cả
người và tài sản, nếu tính trung bình mỗi máy bay chuyên chở 100 hành khách
và giá trị máy bay khoảng 4 triệu USD thì tổng số tiền ước tính bồi thường lên
tới 50-60 triệu USD/01 vụ tổn thất.
Hơn nữa, hành khách đi trên một chuyến bay thường mang nhiều quốc
tịch khác nhau, do vậy mức thu nhập của các hành khách cũng khác nhau rất
nhiều và tất nhiên các phong tục, tập quán, luật l
ệ các nước hành khách mang
quốc tịch cũng khác nhau. Mỗi khi có tổn thất về hàng không mà đặc biệt là
các tổn thất liên quan đến hàng không thì vấn đề này cần phải được lưu ý thích
đáng, có như vậy mới tạo điều kiện cho việc giải quyết hậu quả một cách
nhanh chóng, chính xác.

nhiệm dân sự). Hiện nay trên thế
giới trong lĩnh vực bảo hiểm hàng không đối
tượng tham gia bảo hiểm gồm:
2.3.1.Bảo hiểm thân máy bay
Là một dạng của bảo hiểm tài sản, công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi
thường tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất bộ phận của thân máy bay do tai nạn
hoặc rủi ro bất ngờ gây ra (trừ những nguyên nhân thuộc phần loại trừ quy định
trong quá trình bảo hiểm hàng không). Đối v
ới loại bảo hiểm này thường quy
định tỷ lệ % trên giá trị bảo hiểm hoặc ấn định một số tiền nhất định đối với
mỗi vụ tổn thất.
2.3.2.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hãng Hàng không đối với hành
khách, hành lý, hàng hoá, bưu kiện và tư trang của hành khách:
Đây là loại bảo hiểm trách nhiệm theo luật định (luật quốc tế hay luật
quốc gia). Công ty bả
o hiểm sẽ bồi thường những khoản tiền mà các hãng
Hàng không (theo luật áp dụng) do gây thương vong cho hành khách khi họ
đang lên xuống máy bay hoặc đang trong quá trình bay hoặc gây thiệt hại đối

84
với hành lý, hàng hoá, bưu kiện, nhận chuyên chở. Đối với loại bảo hiểm này
trách nhiệm của công ty bảo hiểm không vượt quá trách nhiệm bảo hiểm quy
định trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
Loại hợp đồng này không áp dụng đối với nhân viên tổ bay khi họ đi
trên máy bay với tư cách phục vụ chứ không phải hành khách và cũng không
áp dụng đối với thiệt hại (về người và tài s
ản) liên quan đến người thứ ba.
2.3.3.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hãng hàng không đối với người
thứ ba.
Là loại bảo hiểm dân sự theo luật định. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường

ất toàn bộ, người được bảo hiểm
không được hưởng quyền bồi thường này vì họ đã được bồi thường trong bảo
hiểm thông thường (bảo hiểm thân máy bay) một số tiền đủ để mua lại một
máy bay tương tự do vậy không bị mất thu nhập trong loại bảo hiểm này, người
được bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ thoả thuận một mức bồi th
ường theo
ngày hoặc tuần và một mức miễn bồi thường theo ngày (thường là 7-10 ngày).
Bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định (thường là từ 10 –15
tuần) là khoảng thời gian bình thường để sửa chữa và kết thúc trong khoảng
thời gian nhất định trong hợp đồng.
Theo nguyên tắc của loại bảo hiểm này số tiền bảo hiểm có thể gần đủ
để thuê ngắn h
ạn một máy bay khác. Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm
sẽ thanh toán mọi chi phí liên quan đến việc bảo dưỡng máy bay trừ những
khoản buộc phải chi trong mọi trường hợp (dù có tai nạn hay không).
2.3.6.Bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm:
Hợp đồng này thường được ký với hãng sản xuất máy bay nhằm bảo vệ
cho những rủi ro là hậu quả do lỗi của người được bảo hiểm trong quá trình
được thiết kế, sửa chữa thay thế phụ tùng sản xuất. Công ty bảo hiểm có trách
nhiệm phải trả do hậu quả của lỗi tay nghề hoặc lỗi của nhà sản xuất gây ra:
- Chết hoặc bị thương đối với hành khách,
- Thiệt hại về người và tài sản đối với người thứ ba.
- Mất khả năng sử dụng máy bay…
Trách nhiệm này phát sinh không chỉ do lỗi hay sơ su
ất trong quá trình
sản xuất mà cả trong quá trình bán sản phẩm.
2.3.7.Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ bay

86
Là loại bảo hiểm tai nạn đối với đối tượng là hành khách hoặc nhân viên

niệm đơn giản nhất, dễ hiểu nhất tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro
mà công ty bảo hiểm này gánh ch
ịu cho công ty bảo hiểm khác. Nói cụ thể hơn

87
tái bảo hiểm về cơ bản là một phương thức mà trong đó các công ty bảo hiểm
(công ty bảo hiểm gốc) chuyển một hay nhiều phần rủi ro cho một hay nhiều
công ty bảo hiểm khác (công ty nhận tái bảo hiểm).
Tái bảo hiểm hàng không với tư cách là một bộ phận của tái bảo hiểm.
Nó được ra đời để phân tán rủi ro và giảm trách nhiệm bồi thường của các công
ty bảo hiể
m gốc trong trường hợp có tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động
hàng không gây ra, đảm bảo số tiền bồi thường không vượt quá khả năng tài
chính của công ty.

3.2.Sự cần thiết của tái bảo hiểm hàng không
Về mặt lý luận, mỗi công ty bảo hiểm đều được thành lập với một số vốn
nhất định do vậy khả năng nhận bảo hiểm cho một rủi ro nào
đó hoàn toàn bị
giới hạn trong số vốn của công ty. Nhưng trong quá trình hoạt động kinh doanh
công ty có thể nhận được những yêu cầu bảo hiểm vượt quá xa khả năng tài
chính của mình, trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh ngày càng trở nên
gay gắt nên việc xác định của công ty không được phép chậm trễ, đồng thời
công ty cố gắng duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng. Nhờ có tái bảo hiểm
mà công ty bảo hiể
m có thể đảm đương được dịch vụ vượt quá khả năng tài
chính của mình đồng thời có thể khai thác được sự giúp đỡ từ phía công ty tái
bảo hiểm đối với lĩnh vực mới, nghiệp vụ mới.
Trong thực tiễn, đặc trưng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng không là các
đơn vị rủi ro được bảo hiểm thường có giá trị rất lớn, vượt quá khả nă

Hoạt động tái bảo hiểm di
ễn ra giữa nhiều tổ chức tái bảo hiểm của
nhiều nước. Như vậy, một thiệt hại có tính thảm hoạ ở một nước, qua tái bảo
hiểm sẽ được bù đắp từ những khoản tiền bồi thường mang tính quốc tế. Tổn
thất được phân tán trên một phạm vi rộng, việc gánh chịu trở nên dễ dàng hơn.
3.3.2.Đối với người được bả
o hiểm
Người được bảo hiểm sẽ đảm bảo rằng số tiền tổn thất sẽ được thanh
toán khi số tiền bảo hiểm và số tiền tổn thất là quá lớn.
Nghiệp vụ tái bảo hiểm sẽ hạn chế xu hướng gia tăng phí bảo hiểm, vì
thế không có tái bảo hiểm thì công ty bảo hiểm gốc sẽ phải thu một khoản phí
bảo hiểm rấ
t lớn để đề phòng bị phá sản khi có thảm hoạ xảy ra.
3.3.3.Đối với công ty nhượng tái bảo hiểm

89
Tác dụng đầu tiên là tái bảo hiểm giúp cho công ty nhượng tái bảo hiểm
có thể tăng khả năng nhận bảo hiểm và có thể nhận bảo hiểm những rủi ro lớn
mà không cần phải tăng thêm vốn, tức là tăng khả năng ký kết của người Bảo
hiểm, đặc biệt là đối với các công ty mới thành lập, vốn kinh doanh còn hạn
chế.
Thứ hai, tái bảo hiểm đả
m bảo khả năng thanh toán tiền bồi thường trong
trường hợp xảy ra những thiệt hại lớn hay những rủi ro mang tính thảm hoạ,
chẳng hạn như một trận bão đánh vào hàng nghìn hợp đồng trong cùng một sự
cố. Nhờ đó tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty nhượng tái
bảo hiểm ổn định hơn.
Thứ ba, tái bảo hiểm có thể giúp người bảo hiểm sửa chữ
a tính bất
thường, đột biến của rủi ro - khả năng sai lệch giữa thực tế và dự đoán mà

Bước 1:
Công ty nhượng thông báo cho nhà bảo hiểm một dịch vụ nào
đó mà mình cần tái bảo hiểm dưới hình thức bản chào (ship), trong đó có ghi
đặc điểm chính của rủi ro được bảo hiểm như : tên và địa chỉ người được bảo
hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm, mức giữ lại của công ty nhượng, thủ tục phí tái bảo
hiểm các thông tin về rủi ro được bảo hiểm.
Bước 2:
Sau khi nhận được bản chào, nhà nhận tái bảo hiểm có toàn
quyền tự do để lựa chọn nhận toàn bộ hay một phần nào đó (tỷ lệ hoặc số tiền)
hoặc từ chối nhà nhận tái bảo hiểm xác nhận phần tham gia, thông thường bằng
cách ghi trực tiếp vào bản thứ hai của bản chào và gửi lại công ty nhượng. Tuy
nhiên, khó khăn chủ yếu của công ty nhượng là thời gian vì vậy trên thực t
ế
việc xác nhận thường được thông qua điện tín hoặc điện thoại trước rồi sau đó
xác nhận bằng văn bản để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng.
Trước khi có ý kiến nhận hay khước từ nhà nhận tái bảo hiểm có thể yêu
cầu biết thêm về những chi tiết khác để đánh giá những rủi ro mà mình sẽ
nhận. Cuối cùng chỉ khi nào nhận được thông báo ch
ấp nhận của nhà nhận tái
bảo hiểm thì hoạt động tái bảo hiểm tạm thời mới được coi là thu xếp xong.
Dịch vụ tái bảo hiểm cũng bị động chấm dứt khi hết hạn hợp đồng. Tuy nhiên
dù hợp đồng này có được tái lập thì không có ý nghĩa là nhận tái bảo hiểm bắt
buộc phải cấp nhận tái bảo hiểm tạm thời cho thời hạn kế tiế
p, mà họ có quyền
tự lựa chọn tiếp tục hay từ chối không tham gia tiếp nữa. Ngoài ra mọi sự thay
đổi về nội dung, điều khoản trong hợp đồng đã thoả thuận đều phải được thông
báo trước và được sự đồng ý của nhà nhận tái bảo hiểm.

91
1.2.Đánh giá về phương pháp tái bảo hiểm tạm thời

c.Trường hợp áp dụng phương pháp tái bảo hiểm tạm thời92
- Rủi ro nhận bảo hiểm có giá trị lớn vượt quá phạm vi và khả năng của
những thoả thuận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cần thiết phải thu xếp tái
bảo hiểm cho phần vượt này.
- Những thoả thuận bảo hiểm theo hợp đồng cố định hiện có của công ty
gốc có thể không áp dụng cho một số rủi ro nào đó nếu công ty b
ảo hiểm vẫn
quyết định bảo hiểm cho những rủi ro đó thì phải tiến hành tái bảo hiểm tạm
thời.
- Tái bảo hiểm chỉ định theo yêu cầu của khách hàng (người được bảo
hiểm) trong số trường hợp khách hàng lớn của công ty bảo hiểm gốc yêu cầu
công ty nhận bảo hiểm cho những tài sản lớn, sau đó tái bảo hiểm phần vượt
quá mức giữ
lại cho nhà nhận tái bảo hiểm theo yêu cầu của khách hàng.
Với tất cả những đặc điểm nêu trên phương pháp tái bảo hiểm tạm thời
có nhiều mặt giống như nghiệp vụ bảo hiểm trực tiếp đòi hỏi công ty nhượng
phải cung cấp các thông tin nhanh, đầy đủ và chính xác. Đồng thời các nhà tái
bảo hiểm phải có nhiều kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao và có khả
năng xét đoán rủi ro chuẩ
n xác kịp thời. Mặc dù có những hạn chế nhất định
nhưng lại có thể áp dụng được trong những trường hợp đặc biệt nên phương
pháp tái bảo hiểm tạm thời vẫn được áp dụng khá phổ biến trong nghiệp vụ bảo
hiểm hàng không và tỏ ra rất hiệu quả khi kết hợp bổ sung cho phương pháp tái
bảo hiểm theo hợp đồng cố định.
2.Phương pháp tái bả
o hiểm theo hợp đồng cố định
Có thể nói rằng, do tái bảo hiểm tạm thời có một số nhược điểm nên

t số lượng
lớn các dịch vụ được nhượng tái với chi phí thấp hơn nhiều so với phương
pháp tái bảo hiểm tạm thời đó, chi phí quản lý của công ty nhượng tái và nhận
tái đều giảm đi. Đồng thời, khi thoả thuận, ký kết hai bên đã nhất trí với các
điều kiện, điều khoản trong hợp đồng. Vì vậy, không cần thiết phải cân nhắc
từng rủi ro m
ột, theo phương pháp này thì tiết kiệm được thời gian của công ty
tái bảo hiểm và không gây chậm trễ cho công ty nhượng.
Việc nhận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cho phép công ty tái bảo
hiểm nhận được nhiều dịch vụ hơn so với việc nhận từng hợp đồng tạm thời,
riêng lẻ. Với khối lượng dịch vụ lớn như vậy “quy luật số đông” đ
ã phát huy
được tác dụng và điều đó có lợi cho việc kinh doanh của công ty. Nên công ty
tái bảo hiểm có điều kiện đẩy mạnh tiến độ khoa học kỹ thuật của ngành bảo
hiểm bằng việc chấp nhận những điều kiện rủi ro mới.
b.Nhược điểm94
- Có thể có một số dịch vụ gốc nằm ngoài phạm vi của hợp đồng do
phạm vi của hợp đồng tái bảo hiểm cố định thường bị giới hạn và cần thiết phải
thu xếp tái bảo hiểm tạm thời.
Trong thực tế, có một số hình thức và phương pháp tái bảo hiểm cố định,
công ty nhượng phải nhượng tất cả gốc k
ể cả những dịch vụ nhỏ mà họ có thể
giữ lại cho riêng mình. Điều này có nghĩa họ phải chuyển phí đi lớn hơn mong
muốn.
c.Trường hợp áp dụng
: Nên dùng phương pháp này dưới dạng tái bảo
hiểm theo phương thức số thành hay mức dôi, hoặc dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ

đem phân chia toàn bộ phần vượt đó cho các nhà tái bảo hiểm theo hợp đồng
cố định.
- Công ty nhận tái bảo hi
ểm có điều kiện thu phí lớn hơn và có phần cân
bằng hơn so với phương pháp tái bảo hiểm tạm thời.
b.Nhược điểm :

- Nhà tái bảo hiểm không có quyền từ chối nhận những rủi ro mà công ty
bảo hiểm gốc chuyển cho họ tuy nhiên những rủi ro đó phải phù hợp với nội
dung và điều khoản thoả thuận trong hợp đồng.
- Khi nhận tái theo phương pháp lựa chọn bắt buộc, nguồn dịch vụ đưa
vào không thường xuyên, không đồng đều và tổn thất xảy ra thất thường.
Khi có khá nhiều đơn v
ị rủi ro có giá trị cao vượt quá khả năng của hợp
đồng cố định sẵn có và cũng chưa phải thu xếp hợp đồng cố định mới. Nếu
đem chào tái từng đơn vị rủi ro thì sẽ rất tốn kém về thời gian cũng như tiền
bạc. Trong những trường hợp như vậy, phương pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt
buộc phát huy tác dụng.
c.Tr
ường hợp áp dụng: Phương pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc
được áp dụng khi khả năng nhận tái bảo hiểm trong các hợp đồng số thành và
mức dôi không thể đáp ứng được hoặc trong trường hợp các rủi ro có giá trị lớn
các dịch vụ mà hợp đồng tái bảo hiểm số thành và mức dôi không cho phép
đưa vào 100% giới hạn trách nhiệm hợp đồng.
III.HÌNH THỨC TÁI BẢO HIỂM THEO TỶ LỆ
Trên thực t
ế, để tiến hành phân tán rủi ro các công ty bảo hiểm và tái
bảo hiểm thường vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp tái bảo hiểm
khác nhau do đó có thể chia ra ba nhóm các hình thức tái bảo hiểm là: hình
thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ, phi tỷ lệ và hình thức tái bảo hiểm kết hợp.

nhiệm nhận bảo hiểm, tức số tiền bảo hiểm tối đa dùng làm hạn mức áp dụng
cho hợp đồng tái bảo hiểm .
Ta có thể lấy ví dụ minh hoạ cho hình thức tái bảo hiểm số thành như
sau:
H
ạn mức tối đa 5.000.000USD
Giữ lại 30%, chuyển tái bảo hiểm 70%

Đơn vị tính:1000USD

Rủi ro Số tiền bảo
hiểm
(STBH)
STBH thuộc
trách nhiệm hợp
đồng số thành
STBH
giữ lại
(30%)
STBH tái
đi(70%)
TBH
tạm thời
1
2
3
4
5
6
100


Vì khả năng của hợp đồng trên là 5.000.000 USD nên số tiền bồi thường
vượt quá hạn mức hợp đồng là : (4.000.000 USD) sẽ quay trở lại công ty bảo
hiểm gốc và công ty thường phải thu xếp tái bảo hiểm tạm thời cho phần này.
Để đơn giản, ta giả sử phí tái bảo hiểm là 1%, khi đó tổng số phí thuộc
hợp đồng số thành sẽ là :

98
14.300.000 x 1% = 143.000 USD
số phí này sẽ được phân chia như sau :
+ Công ty bảo hiểm gốc : 30% x 143.000 = 42.900 USD
+ Công ty tái bảo hiểm số thành : 70% x 143.000 = 100.100 USD
Cần lưu ý rằng số phí 100.100 USD của công ty tái bảo hiểm số thành là
chưa trừ đi thủ tục phí tái bảo hiểm mà công ty này phải trả cho công ty bảo
hiểm gốc.
Giả sử rủi ro thứ 4 có tổn thất 2.000.000 khi đó số tiền bồi thường thuộc
trách nhiệm của :
+ Công ty bả
o hiểm gốc là : 30% x 2.000.000 = 600.000 USD
+Công ty tái bảo hiểm số thành là : 70% x 2.000.000 = 1.400.000 USD
Hình thức này có đặc điểm là số tiền bảo hiểm mà công ty bảo hiểm gốc
giữ lại với mỗi rủi ro là không giống nhau. Sở dĩ như vậy là do tỷ lệ giữ lại
được ấn định như nhau ngay từ khi ký kết hợp đồng, trong khi đó số tiền bảo
hiểm của mỗi đơn vị rủ
i ro lại khác nhau.
Từ khái niệm và đặc điểm của hình thức tái bảo hiểm số thành có thể
thấy những ưu nhược điểm sau:
a.Ưu điểm :

Là hình thức tái bảo hiểm đơn giản, dễ thực hiện, chi phí quản lý hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status