Tài liệu ĐỀ ÁN: “Giải thích tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nước” - Pdf 90

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GIẢI THÍCH TÁC ĐỘNG TRÀN
CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ
TRONG NƯỚC
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :

LỜI MỞ ĐẦU
FDI cú thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả cỏc lĩnh vực kinh tế, văn hoỏ và xó
hội. Tuy nhiên, đối với cỏc nước đang phỏt triển, nhất là cỏc nước nghốo, kỳ vọng
lớn nhất của việc thu hỳt FDI chủ yếu là nhằm mục tiờu tăng trưởng kinh tế. Kỳ
vọng này dường như được thể hiện trong tư tưởng của cỏc nhà kinh tế và cỏc nhà
hoạch định chớnh sỏch với ba lý do chớnh.
Một là, FDI gúp phần làm tăng thặng dư của tài sản vốn, gúp phần cải thiện cỏn
cõn thanh toỏn núi chung cà ổn định kinh tế vĩ mụ.
Hai là, cỏc nước đang phỏt triển thường cú tỷ lệ tớch luỹ vốn thấp và vỡ vậy, FDI
thường được coi là nguồn vốn quan trọng để bổ sung đầu tư trong nước nhằm mục

Phần một: LÝ LUẬN CHUNG
I. FDI
1. Các khái niệm 4
2. Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế ở các nước
đang phát triển 5
II. Tác động tràn của fdi:
1. Khái niệm 8
2. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn 8

Phần hai: TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH
TẾ TRONG NƯỚC
I. Tình hình thu hút FDI của Việt Nam trong những năm qua 10
II. Tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nước
1. Kênh di chuyển lao động 14
2. Kênh phổ biến và chuyển giao công nghệ 15
3. Kênh liên kết sản xuất 16
4. Kênh cạnh tranh 18
III. Phân tích định lượng tác động tràn
1. Tác động tràn của FDI tới năng suất lao động của doanh nghiệp 20
trong nước
2. Khả năng hấp thụ tác động tràn của khu vực kinh tế trong nước 22

Phần ba: MỘT SỐ GIẢI PHÁP 26

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Túm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một
nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia đó để
có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại
quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mỡnh.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có
nhân tố nước ngoài: chủ đầu tư, vốn đầu tư, địa điểm đầu tư từ các quốc gia khác
nhau. Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về quốc tịch
hoặc lónh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ đầu tư trực
tiếp nước ngoài mà cũn thể hiện ở việc di chuyển tư bản trong đầu tư trực tiếp vượt
ra khỏi biên giới một quốc gia.
Qua đó ta có thể thấy được đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay có hai đặc điểm
nổi bật đó là: có sự di chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư trực tiếp
tham gia vào quá trỡnh hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
Trong thực tiễn, FDI được thực hiện theo những hỡnh thức khỏc nhau, trong đó
những hỡnh thức được áp dụng phổ biến bao gồm:
+ Hợp tỏc kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
+ Doanh nghiệp liờn doanh
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Ngoài những hỡnh thức đầu tư trên, cũn một vài hỡnh thức đầu tư 100% vốn nước
ngoài khác như BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao), BTO (xây dựng -
chuyển giao - kinh doanh), BT (xây dựng - chuyển giao)…

2. Vai trũ FDI đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước đang phát
triển:
2.1. FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế:
Từ thế kỷ trước, nhà kinh tế học Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết “vòng luẩn
quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên ngoài”. Theo lý thuyết này, đa số các

mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng
định rõ. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục
tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu
này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất
định của khoa học - kỹ thuật.
Lênin cũng đã từng khẳng định: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được xây
dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức
nhà nước có khoa học khiến cho hàng triệu người phải tuân theo hết sức nghiêm
ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất và phân phối sản phẩm thì
không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”.
Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả
năng công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh
chính là chuyển giao công nghệ sãn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng
công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những
mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện chủ yếu
bởi các TNC (công ty xuyờn quốc gia), dưới các hình thức chuyển giao trong nội
bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các
TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang
nước chủ nhà (nhất là các nước đang phát triển được thông qua các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần
lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, sản phẩm công
nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ
quản lý, công nghệ marketing. Theo số liệu thống kê của trung tâm nghiên cứu
TNC của Liên hợp quốc, các TNC đã cung cấp khoảng 95% trong số các hạng mục
công nghệ mà các chi nhánh của TNC ở các nước đang phát triển nhận được trong
năm 1993.
Cùng với hình thức chuyển giao trên, chuyển giao công nghệ giữa các chi nhánh
của các TNC cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Trong giai
đoạn 80-96 các TNC đã thực hiện khoảng 8254 hợp đồng chuyển giao công nghệ

những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các
doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.
Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ và dinh
dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y tế,
dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm.
2.4. FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu:
Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu,
những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu
quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Các nước đang phát triển tuy có khả
năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn
trong việc thâm nhập thị trường quốc tế. Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài
hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các
nước này. Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường
thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC thực hiện. Ở tất cả các nước
đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất
khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế.
Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng
các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn
chế bởi quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu
từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.
2.5. FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển
nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế
đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh
tế đối ngọi, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi qgh phải thay đổi cơ cấu
kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI. Ngược lại, chính FDI lại góp phần
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm

hai cách để tạo ra tác động tràn. Đó là số lao động này tự thành lập Công ty riêng
hoặc làm thuê cho các doanh nghiệp trong nước, nhất là trong cùng ngành mà
doanh nghiệp FDI đang hoạt động.
2.2. Kờnh phổ biến & chuyển giao cụng nghệ:
Đây là một kênh rất quan trọng để tạo ra tác động tràn tích cực của FDI.
Sự chuyển giao cú 3 loại: Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp là hỡnh thỏi
chuyển giao giữa cụng ty đa quốc gia (MNC) với cụng ty con tại nước ngoài tức
doanh nghiệp FDI.
Hỡnh thỏi thứ hai là chuyển giao cụng nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh
nghiệp bản xứ hoạt động trong cựng ngành. Người quản lý bản xứ làm việc trong
doanh nghiệp FDI sau khi học hỏi được nhiều kinh nghiệm cú thể mở cụng ty
riờng cạnh tranh lại với cụng ty FDI. Đối với doanh nghiệp FDI đây là một sự tổn
thất nhưng đối với kinh tế của nước nhận FDI thỡ đây là hiện tượng tốt vỡ cụng
nghệ được lan truyền sang toàn xó hội gúp phần tăng cường nội lực. Một thớ dụ
khỏc của hỡnh thỏi này là xớ nghiệp bản xứ đó cú sẵn và hoạt động cạnh tranh
trong cựng lónh vực với doanh nghiệp FDI cú thể quan sỏt, nghiờn cứu hoạt động
của doanh nghiệp FDI từ đó cải thiện hoạt động của mỡnh. Cú thể gọi hỡnh thỏi
thứ hai liờn quan đến chuyển giao cụng nghệ là sự chuyển giao hàng ngang giữa
cỏc doanh nghiệp vỡ là sự chuyển giao giữa cỏc doanh nghiệp độc lập và ở trong
cựng một ngành.
Hỡnh thỏi thứ ba là chuyển giao hàng dọc giữa cỏc doanh nghiệp trong đó doanh
nghiệp FDI chuyển giao cụng nghệ sang cỏc doanh nghiệp bản xứ sản xuất sản
phẩm trung gian (điển hỡnh là sản phẩm cụng nghiệp phụ trợ như phụ tựng, linh
kiện xe mỏy) cung cấp cho doanh nghiệp FDI, hoặc trường hợp doanh nghiệp bản
xứ dựng sản phẩm của doanh nghiệp FDI để sản xuất ra thành phẩm cuối cựng
(chẳng hạn doanh nghiệp bản xứ dựng nguyờn liệu chất dẻo - plastic - do doanh
nghiệp FDI cung cấp để sản xuất cỏc loại đồ dựng trong nhà). Trong cả hai trường
hợp, cụng nghệ được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp bản xứ,
và đây là hiệu quả lan toả lớn nhất, quan trọng nhất nờn cỏc nước đang phỏt triển
đặc biệt quan tõm và đưa ra cỏc chớnh sỏch làm tăng hiệu quả này.


I. TèNH HèNH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA:
Từ đầu thập niên 1990, kinh tế vĩ mô của Việt Nam được ổn định, tốc độ phát triển
kinh tế cũng lên quỹ đạo và ở mức tương đối cao. Quan hệ với Trung Quốc và các
nước khác trong khu vực đó bỡnh thường hoá. Nhật đó quyết định viện trợ trở lại
(1992) và Hội nghị các nhà tài trợ giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng đó được
quyết định sẽ tổ chức hằng năm (bắt đầu năm 1993). Sự chuyển biến thuận lợi nầy
cùng với vị trí địa lý tốt, tỡnh hỡnh chớnh trị, xó hội ổn định và một nước có dân
đông, có nguồn lao động phong phú đó làm cho Việt Nam trở thành môi trường
đầu tư nhiều tiềm năng. Theo kết quả thăm dũ hằng năm về kế hoạch đầu tư nước
ngoài của vài ngàn doanh nghiệp lớn Nhật Bản do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật
Bản (JBIC) thực hiện, Việt Nam đó sớm trở thành một trong những mụi trường mà
doanh nghiệp Nhật chú ý. Việt Nam xếp thứ 5 trong lần thăm dũ năm 1992. Năm
1993 Việt Nam ở vị trí thứ 4 và trong 2 năm liên tiếp sau đó đó vươn lên vị trí thứ
2. Từ năm 1996 vị trí của Việt Nam giảm nhưng hầu như năm nào cũng nằm trong
5 nước được doanh nghiệp Nhật đánh giá cao về tiềm năng.
Việt Nam tiếp tục được nước ngoài đánh giá cao về tiềm năng nhưng dũng chảy
FDI vào Việt Nam từ nửa sau thập niờn 1990 đó giảm nhanh và hiện nay cũng
chưa hồi phục (Xem Hỡnh 2)

Tuy các yếu tố về kinh tế vĩ mô, về dân số, lao động, về vị trị địa lý vẫn thuận lợi
nhưng chính sách liên quan đến FDI của Việt Nam chưa ổn định, thiếu nhất quán,
hay thay đổi và chưa có chiến lược phát triển công nghiệp lâu dài. Đến năm 2000,
Việt Nam mới sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài theo hướng cạnh tranh được với các
nước chung quanh. Hơn nữa, việc vận dụng luật vào việc quản lý thực tế vẫn chưa
có hiệu quả.
Biểu 1 cho thấy vị trí của FDI trong các chỉ tiêu của kinh tế Việt Nam. So với kinh
nghiệm các nước Á châu khác, vị trí nầy khá cao. Chẳng hạn tỉ trọng của FDI trong
tổng đầu tư của Việt Nam xấp xỉ với Malaixia và cao hơn Thái Lan nhiều (trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status