BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THCS - LOAN No1718-VIE
(SF)
]
HOÀNG ANH KHIÊM
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO
NGÀNH HỌC LỊCH SỬ
(
Sách trợ giúp giảng viên CĐSP
) NH XUT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ NỘI 2007
ủ trương của nhà nước (NQ40/2000/QH10). Đó là quan điểm “thày
chủ đạo, trò chủ động” hay “dạy học phát huy tính tích cực của học sinh”.
Vấn đề là bằng cách nào gắn được những lý luận hết sức đúng đắn đó vào
thực trạng nền giáo dục hiện nay ở tất cả các bậc học.
Ngay từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu
giáo dục đã nêu ra nh
ững vấn đề bất cập về vị trí, vai trò của khoa học xã
hội trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo: từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng cho đến nay, đa số học sinh, sinh viên thích các ngành khoa học kĩ
thuật, khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội. Chỉ có một số ngành của khoa
học xã hội liên quan đến kinh tế, đối ngoại như thương nghiệp, kinh tế kế
hoạch, quan hệ quốc t
ế, ngoại giao… được sinh viên quan tâm. Còn các
ngành như kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, triết học thì chưa
thu hút được học sinh, sinh viên vì chưa thực sự đổi mới chương trình và đội
ngũ giảng dạy các ngành khoa học xã hội còn khá bảo thủ, ảnh hưởng của
1
Quan điểm dạy học tích cực này đã được đề ra từ thế kỷ XVIII với tư tưởng của J.J.Rousseau (trào lưu
“Triết học Anh sáng”) ở châu Au và ảnh hưởng sâu rộng đến các nhà khoa học thế kỷ XIX.
một giai đoạn dài của thời kỳ bao cấp, duy ý chí. Chúng ta muốn hình thành
nhân cách xã hội chủ nghĩa nhưng uy tín của khoa học lý luận đang giảm
sút, thiếu bổ sung, còn nặng tính hàn lâm, giáo điều và minh họa. Thậm chí,
theo một số nhà nghiên cứu thì thực trạng khoa học xã hội hiện nay đã là
một vấn đề trầm trọng. Trong xu thế hội nhập quốc tế, xã hội đòi hỏi bức
xúc về
cải cách chính trị, cải cách hành chính nhưng trong các hệ thống
trường học lại ngán ngại môn học chính trị, và khoa học xã hội nói chung.
cần phải biết vượt qua sự bảo thủ của chính mình và những hạn chế của
phương pháp dạy học truyền thống. Xã hội văn minh ngày nay chính là xã
hội củ
a những con người tự giác – theo nghĩa rộng, do những con người tự
giác tạo ra.
Đối với các trường đại học, cao đẳng bản chất hoạt động dạy và học là
hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới
sự hướng dẫn của giảng viên. Sinh viên phải là chủ thể của hoạt động nhận
thức – huy động ở mức cao nhất tiềm năng, vốn sống để chiếm lĩnh tri thức,
kỹ năng. Trong quá trình đó, sinh viên không chỉ tái tạo lại tri thức mà còn
tìm kiếm tri thức mới. Với những hoạt động dạy – học tương tác và hệ thống
các phương pháp tích cực, sinh viên sẽ được học và tìm kiếm tri thức, kỹ
năng trong điều kiện sư phạm.
Đổi mới ph
ương pháp dạy học lịch sử theo hướng tích cực (active
method) ở các trường Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm là sự vận dụng,
tích hợp các lý thuyết dạy học hiện đại với hệ thống các phương pháp tích
cực và có sự trợ giúp của công nghệ mới. Muốn vậy, cần đổi mới nhận thức
về 4 nhiệm vụ dạy học của hệ
đào tạo sư phạm hiện nay đối với ngành học
lịch sử: dạy tri thức khoa học lịch sử, dạy kỹ năng dạy học bộ môn lịch sử;
dạy phương pháp lưu trữ, xử lý thông tin, sử dụng thông tin và phương pháp
nghiên cứu khoa học lịch sử…; hình thành thái độ, thế giới quan khoa học,
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên. Các nhiệm vụ dạy học này phụ thuộ
c
vào sự đổi mới, hoàn thiện 4 yếu tố trong cấu trúc hoạt động dạy - học tương
tác: chương trình, giáo trình; giảng viên; phương tiện, thiết bị dạy học hiện
đại và sinh viên. Trong đó, giảng viên, sinh viên là hai yếu tố chính (hai yếu
tố động) các yếu tố khác chỉ trở nên có ý nghĩa khi đặt trong tác động tương
hỗ của hai yếu tố này vì nó định hướng cho những tác động của giảng viên
tập tích cực mà không cắt xén chương trình, d
ạy dồn, dạy ép hoặc thường
xuyên bị “cháy giáo án”. Nhóm phương pháp thuyết giảng và lượng tri thức
khoa học của giáo trình, sách giáo khoa là mặt mạnh của khoa học xã hội
song cần giảm bớt những thông tin áp đặt buộc sinh viên phải thừa nhận và
ghi nhớ máy móc. Với cách dạy theo vấn đề, trong một ý nghĩa nhất định,
giáo trình sẽ chỉ còn chức năng lưu trữ hệ thống các dữ liệu tra cứu. Giảng
viên nên tăng cường các bài tập nhận thức về phương pháp luận sử học,
giảm bớt những câu hỏi tái hiện lịch sử, tăng cường các câu hỏi phát triển
thông minh, giảm bớt những kết luận áp đặt và tăng cường phương pháp gợi
mở để sinh viên tự nghiên cứu phát triển bài học.
Trong thực tế không có hai cách lựa chọn phương pháp dạy học giống
nhau và cũng không có hai phong cách giảng dạ
y giống nhau. Ngành tâm lý
học sư phạm có rất nhiều lý thuyết học tập khác nhau như “thuyết hành vi”,
“thuyết nhận thức”, “thuyết kiến tạo”, “thuyết tự lập”… Mỗi lý thuyết đều
có những ưu điểm và giới hạn riêng. Các nhà khoa học ngày nay không tìm
kiếm một lý thuyết tổng quát toàn năng mà xu hướng chung là chỉ xây dựng
những mô hình riêng lẻ cho từng chuyên ngành từng chuyên đề khoa học.
Đó là việc vận dụ
ng kết hợp một cách thích hợp các lý thuyết học tập khác
nhau với sự trợ giúp của công nghệ mới nhằm đáp ứng những yêu cầu của
cơ chế học tập. Chính vì vậy, những phương pháp, giải pháp nêu ra trong các
phân môn, học phần lịch sử trong tài liệu này chỉ mang tính minh họa, gợi ý
để cùng tìm ra các hình thức dạy học tốt nhất, hiệu quả nhất.
Phương pháp dạy học đối v
ới khoa học lịch sử ở bậc cao đẳng, đại học
thích hợp nhất là dạy học theo vấn đề lịch sử và theo các chuyên đề khoa
học. Điều kiện tiên quyết là xác định được những vấn đề trọng tâm, bao trùm
hết được các mục tiêu đào tạo về nội dung, kỹ năng… trong từng phân môn,
n kết hợp sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau sao cho sinh viên được tham gia nhiều nhất trong các hoạt động nhận
thức. Sinh viên phải được tự học ít nhất 30% học phần hoặc các môn học
(giảng viên cần hướng dẫn chu đáo phương pháp tự học, sinh viên nắm được
nhiệm vụ và cách học, giảng viên cũng cần có các biện pháp để kiểm tra chất
lượng nội dung tự học một các thiế
t thực…); sắp xếp sao cho trong một bài
giảng lịch sử thời lượng giảng viên diễn giảng là ít nhất. Với hệ thống các
phương pháp dạy học hiện đại giảng viên cần thử nghiệm nhiều kĩ thuật
khác nhau.
Phương pháp dạy học theo vấn đề, theo từng chuyên đề giúp sinh viên
ghi nhớ sự kiện, nhân vật, địa danh con số, ngày tháng (sẽ là rất nhiều)…
một cách khoa học, logic và vận d
ụng đúng vị trí, vai trò của chúng trong
từng nội dung, từng vấn đề. Sinh viên không chỉ thuộc sự kiện, hiện tượng
lịch sử mà còn hiểu sâu sắc quy luật phát triển mang tính toàn cục của các
vấn đề, các giai đoạn lịch sử. Trong quá trình truyền thụ sinh động các nội
dung khoa học, giảng viên phải định hướng được sự phát triển của sinh viên
theo mục tiêu giáo dục. Đồng thời cũng phải
đảm bảo được sự tự do của sinh
viên trong các hoạt động nhận thức. Các phương pháp giảng dạy theo vấn
đề, chuyên đề trong các phần phương pháp đào tạo cho một số học phần cụ
thể trong sách này cũng được biên soạn theo hướng mở để giảng viên có thể
sáng tạo lựa chọn các phương pháp nhỏ giải quyết vấn đề lịch sử một cách
tốt nhấ
t, phù hợp nhất và hiệu quả nhất tuỳ theo từng điều kiện hoàn cảnh,
đối tượng sinh viên.
2
Việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề. Dạy học khám phá đòi hỏi nhiều thời gian, đòi hỏi cao
của sinh viên. Cuối cùng điều không thể thiếu là sự tự tin củ
a giảng viên và
phải hết sức nhiệt tình với phương pháp của mình.
LOGIC HOẠT ĐỘNG DẠY LOGIC HOẠT ĐỘNG HỌC 1- Kích thích hứng thú học tập, nêu
vđ
2- Tổ chức hoạt động học của sinh
viên
3- Hợp tác - giúp đỡ
4- Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh
1- Hứng thú học tập - học tích cực xảy
ra
2- Tham gia tích cực vào hoạt động
học
3- Chịu trách nhiệm đến cùng việc học
4- Tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh
Bài học kinh nghiệm Bài học kỹ năng
Phương tiện dạy học hiện đại (multimedia) không phải là giải pháp toàn
năng và cũng không phải là phương pháp dạy học hiện đại, nhưng hành động
sử dụng những phương tiện dạy học này lại là hành động phương pháp.
Ung dụng multimedia trong các hoạt động dạy học đang là xu hướng mới
tích cực trong việc phát huy trí lực học sinh, sinh viên. Đó là một hệ thống
kỹ thuật dùng để trình diễ
n các dữ liệu và thông tin, sử dụng đồng thời các
hình thức chữ viết, âm thanh, hình ảnh, động hình, film, vidéo clip, các hiệu
ứng… qua hệ thống computer, trong đó tạo khả năng tương tác giữa người
cũng phải có một máy tính nối mạng, máy chiếu (projecter), amply, loa, màn
hình… Phòng Bộ môn sẽ là nơi lưu trữ, xử lý thông tin khoa học và thuyết
trình, hội thảo các vấn đề khoa học. Trong tương lai cần số hoá chương
3
Ở các nước tiên tiến, văn hoá nghe nhìn cũng cạnh tranh với văn hoá đọc. Nền công nghiệp xuất bản sách giáo
khoa cũng kìm hãm sự phát triển của giáo dục điện tử. Theo kinh nghiệm Mỹ, giải pháp hợp lý và hiệu quả nhất
là kết hợp phương pháp tryền thống với hiện đại. Hiện thực ảo trong giáo dục cho phép gia tăng tới 20% năng lực
trí tuệ của học sinh. Tuy vậy, nhân tố
quan trọng nhất vẫn là thày giáo – yếu tố không máy móc nào có thể thay
thế được
trình, giáo trình, đồng bộ cơ sở dữ liệu khoa học, đồng bộ các phương tiện
thiết bị, tiến tới dạy học sử dụng mạng điện tử e-Learning với các hình thức
dạy học kết hợp sử dụng mạng thông tin điện tử (mạng nội bộ hoặc internet),
sử dụng đa phương tiện để trình bày các thông tin khoa học và tổ chức các
ho
ạt động dạy - học tương tác. Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, mạng
thông tin điện tử với giáo trình điện tử các chương trình dạy học, thư viện
điện tử… đã được xây dựng như một cổng hành chính quốc gia (gateway)
cho phép hoạt động dạy và học áp dụng mọi thời gian (anytime), cho mọi
người (anybody), khắp nơi (anywhere) một cách thuận tiện.
Cùng với công cuộ
c công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành giáo dục-đào
tạo một số tỉnh đã định hướng sẽ đưa CNTT vào ứng dụng rộng rãi trong
mọi hoạt động dạy, học và quản lý của ngành trong giai đoạn 2006-2010.
Xây dựng mô hình trường điện tử ở các cấp học, ngành học. Các trường đều
đã có website riêng. Mạng e-Learning và Internet ADSL sẽ kết nối, phủ kín
tại các cơ sở ngành giáo dục-đào t
ạo. Trước hết, các cơ sở của ngành cần
án là một nhiệm vụ học tập phức hợp nhằm giải quyết một nội dung, một
vấn đề quan trọng hay một giai đoạn lịch sử. Với sự hướng dẫn của giả
ng
viên, sinh viên sẽ tự lực gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực
hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả công việc. Hình
thức chủ yếu là làm việc theo nhóm, kết quả dự án sẽ là những sản phẩm
hành động (có thể là một đề tài, một chương trình lịch sử được số hoá hay là
những sơ đồ
, biểu đồ, sa bàn lịch sử… ) có thể giới thiệu, trình diễn được.
Về phương pháp kiểm tra, đánh giá:
Thông thường, các hình thức thi, kiểm tra, đánh giá như hiện nay sẽ
quyết định cách học, cách dạy theo kiểu truyền thụ một chiều. Để đổi mới
phương pháp kiểm tra đánh giá cần tiến hành từng bước theo cách dạy tích
cực. Hiện tại vẫn phải duy trì các hình thức bài kiem tra như: kiể
m tra viết
gồm bài tự luận, bài tập nhận thức, kiểm tra vấn đáp và gần đây, thêm hình
thức thi trắc nghiệm khách quan…
Dù áp dụng hình thức kiểm tra, đánh giá nào khi ra đề cũng phải chú ý đề
ra các mục đích, yêu cầu cụ thể như:
- Kiểm tra cả quá trình và kết quả học tập các học phần lịch sử.
- Kiểm tra nhằm phát hiện lỗi để sửa ch
ữa hơn là để xếp loại sinh viên
- Kiểm tra sự giải thích và ứng dụng khái niệm khoa học, kiến thức lịch
sử hơn là nhớ lại khái niệm, sự kiện lịch sử.
- Kiểm tra và đánh giá để mở ra một qui trình dạy học mới chứ không
chỉ kết thúc một qui trình dạy học đã thực hiện và cũng là một hình thức tự
học c
ủa sinh viên.
- Hướng đến tự kiểm tra và tự đánh giá của sinh viên.
Ngân hàng đề thi : Các khoa hoặc phòng Đào tạo nên xây dựng nhiều bộ
phải đầu tư nhiều thời gian và công sức nhưng cần tránh các câu quá đơn
giản hoặc quá dài, phức tạp. Tránh các câu phát biểu có hai ý tưởng, trừ phi
đo lường khả năng sinh viên nhận ra mối quan hệ nhân quả của sự vật, hiện
tượng.
- Số lượng, độ khó của các câu h
ỏi và thời gian làm bài tuỳ thuộc vào
yêu cầu kiểm tra đánh giá của từng học phần. Kiểu nhận dạng câu thể hiện ý
kiến đúng nên dựa vào một cơ sở suy luận kiến thức thật chính xác nhưng
không mang tính đánh đố hoặc chỉ kiểm tra sự ghi nhớ máy móc. Trong
phần đáp án a, b, c, d, e… nên có khoảng 3 - 4 đáp án gần đúng, không nên
có đáp án sinh viên dễ dàng loại trừ.
- Hình thức thi trắc nghiệm khách quan chỉ
nên vận dụng thử nghiệm
khoảng 30% trong toàn bộ chương trình các học phần các phân môn. Cần
hạn chế những câu hỏi chỉ kiểm tra được việc ghi nhớ con số, sự kiện hoặc
những kiến thức từ chương, sách vở mà chủ yếu là kiểm tra được khả năng
phân tích, suy luận, vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn. Hình thức Hội
thi nghiệp vụ
sư phạm với việc kiểm tra kiến thức tổng hợp vận dụng trắc
nghiệm khách quan là phù hợp nhất. Nên tổ chức thường xuyên các hình
thức show games, tạo các sân chơi trí tuệ cho sinh viên mô phỏng theo các
chương trình truyền hình Việt Nam và thế giới. Nếu có phòng máy tính nối
mạng nên thiết kế các bộ đề có khả năng thay đổi thứ tự các câu hỏi cho
từng thí sinh và thiết kế chương trình máy tính để có thể chấ
m bài tự động.
Đánh giá là một thuật ngữ chung bao gồm các qui trình đầy đủ dùng để
thu thập thông tin về việc học của học sinh (chẳng hạn quan sát, xếp hạng,
hay các bài kiểm tra viết) và sự hình thành các phán đoán giá trị có liên quan
đến sự tiến triển của việc học tập.
Tóm lại, trong lý luận dạy học tích cực, để hoàn thiện 4 cấu trúc hoạt
Nắm được - Những quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về những vấn đề cơ bản có liên quan việc học tập, nghiên cứu lịch
sử ở Cao Đẳng Sư Phạm.
- Đố
i tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử.
- Sơ lược lịch sử, khoa học lịch sử (Việt Nam – chủ yếu và thế giới).
- Phương pháp học tập và nghiên cứu lịch sử ở CĐSP.
* Về tư tưởng :
- Nhận thức đúng đắn về Lịch sử với tư cách là một khoa học, về vai trò,
ý nghĩa của môn Lị
ch sử trong công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.
- Vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh vào học tập, nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử.
- Xác định thái độ đúng, đổi mới phương pháp khoa học trong nghiên
cứu, học tập để đạt chất lượng đào tạo cao.
* Về kĩ năng:
- Rèn luyện tư duy khoa học trong việc phân tích, khái quát,
đánh giá về
các vấn đề đang học.
- Nâng cao khả năng thực hành trong độc lập nghiên cứu, học tập bộ
môn, thông qua các hoạt động trên lớp, ngoài trường, thực tế xã hội …
5. Chương trình chi tiết
Chương I
NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC LỊCH SỬ
(5 tiết)
1. Lịch sử là một khoa học
1.1.Về khái niệm “lịch sử” và “khoa học”.
1.2. Hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử. Mối quan hệ giữa hiện thực
lịch sử và nhận thức lịch sử.
Chương III
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC
LỊCH SỬ
(10 tiết)
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh – cơ sở phương pháp
luận nhận thức lịch sử của chúng ta.
1.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh v
ới việc nhận
thức lịch sử.
1.2. Một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh được vận dụng vào công tác sử học.
2. Tính khoa học và tính đảng trong sử học Mác-xít.
2.1. Tính khoa học trong công tác sử học.
2.2. Nguyên tắc tính đảng cộng sản trong nghiên cứu lịch sử của chúng
ta.
2.3. Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính đảng trong sử học Mác-
xít.
3. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiên cứu và học
tập lịch sử.
3.1. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Nội dung và mối quan
hệ giữa hai phương pháp này trong nghiên cứu, dạy học lịch sử. Những sai
lầm thường gặp do vận dụng không đúng hai ph
ương pháp này.
3.2. Vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong giải
quyết một số vấn đề chủ yếu trong công tác sử học. Những sai lầm mắc phải
khi vận dụng không đúng hai phương pháp lịch sử về logic.
3.2.1. Xử lý mối quan hệ giữa tài liệu sự kiện và khái quát lý luận.
3.2.2. Xử lý mối quan hệ giữa quan điểm lịch sử và quan điểm giai cấp.
- Cần cung cấp kiến thức mới, tổ chức hướng dẫn sinh viên làm việc và
trao đổi trên lớp.
- Tổ chức xêmina sau khi học một vài chương và tổng kết 6 tiết
(Chương I + II – 2 tiết; Chương III + IV – 2 tiết; Tổng kết – 2 tiết)
- Chú ý việc vận dụng kiến thức về nhập môn sử học vào việc học tập
các học phần về L
ịch sử và Phương pháp dạy học Lịch sử vào làm bài tập,
nghiên cứu khoa học.
8. Tài liệu tham khảo.
1. Lê Văn Sáu, Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên: Nhập môn sử
học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1986.
2. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng: Nhập môn sử học
(Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng sư phạm), NXB
Giáo dục, Hà Nội 1989.
3. Viện sử học: Sử học Việt Nam trên đường phát triể
n, NXB Khoa học
xã hội Hà Nội,1989.
4. N.A Erơphêêp: Sử học là gì? NXB Giáo dục, Hà Nội, 1981.
5. Phan Ngọc Liên (chủ biên): Những vấn đề lịch sử trong tác phẩm Hồ
Chí Minh, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000.
***
PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO
Nhập môn sử học gồm phần mở đầu, 4 chương và phân bố thành 2 đơn vị
học trình. Mục tiêu đào tạo đặt ra mang tính quyết định cho việc thành công
của cả quá trình gi
ảng dạy, học tập và nghiên cứu các học phần, phân môn
khác của toàn bộ chương trình lịch sử. Đó là những kiến thức cơ sở, nền
móng của khoa học lịch sử, phương pháp học tập, nghiên cứu và thái độ
khoa học, tình cảm nghề nghiệp cần phải truyền thụ cho sinh viên. Kế hoạch
Thuyết trình thông báo - tái hiện, giảng giải nhằm hình thành những khái
niệm cơ sở ban đầu và những kiến thứ
c sơ giản về phương pháp luận trong
nội dung chương I.
Thuyết trình đặt – giải quyết vấn đề áp dụng trong nội dung chương II -
Sơ lược lịch sử phát triển của khoa học lịch sử - giảng viên sẽ không thông
báo những tri thức khoa học lịch sử dưới dạng có sẵn mà phục hồi (ở mức độ
nhất định) con đường mà các nhà sử học từ cổ đạ
i đến ngày nay đã và đang
trải qua để hoàn thiện khoa học lịch sử. Giảng viên sẽ phải lần lượt nêu các
vấn đề (ơrixtic) cơ bản và trình bày cách giải quyết vấn đề, phân tích những
mâu thuẫn trong từng cách giải quyết đó và đưa ra những cách giải quyết
khác hợp lý hơn, khoa học và hiệu quả hơn. Giảng viên cũng có thể minh
hoạ cụ thể về các quan điể
m sử học cổ đại, phong kiến hay tư sản để nêu bật
sự ưu việt của quan điểm sử học mácxit.
Nếu kết hợp tổ chức được những hoạt động xêmina hay thảo luận nhóm
nhỏ theo những vấn đề nêu ra thì hiệu quả đạt được rất cao vì sinh viên sẽ
được dẫn đắt, theo dõi quá trình phát hiện ra chân lý khoa học và có được
cảm xúc thực sự của m
ột người nghiên cứu khoa học.
Ví dụ: Nêu nhận định của F. Enghels: “Lịch sử loài người từ khi thành
văn đến ngày nay là lịch sử đấu tranh giai cấp” hoặc đánh giá về khoa học
lịch sử “Trong tất cả các khoa học, chúng tôi chỉ công nhận có một khoa học
đó là khoa học lịch sử”. Như vậy, với sự hướng dẫn của giảng viên, sinh
viên sẽ phải vận dụng những tri thứ
c về khảo cổ học, khoa học tự nhiên, lịch
sử, triết học… để chứng minh lịch sử là khoa học của mọi khoa học.
Chú ý: những nội dung về phương pháp luận hay những khái niệm phức
tạp (như hình thái kinh tế – xã hội, ý thức hệ, chủ nghĩa duy vật lịch sử,
là sự kết hợp tài tình chủ nghĩa duy vật lịch sử với những nhân tố duy vật và
biện chứng của triết học phương Đông, kết hợp hài hoà giữa các nhân tố
hiện đại và truyền thống.
Nội dung những quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh được vận dụng vào nghiên cứu, học tập lịch sử. (Sẽ cụ thể hoá trong
phần hướng dẫn phương pháp học tập, nghiên cứu lịch sử)
4
Giải quyết vấn đề lịch sử xã hội loài người là lịch sử của các phương
thức sản xuất và là lịch sử đấu tranh giai cấp, giảng viên nên dùng phương
pháp sơ đồ hoá các vấn đề lịch sử để trình bày quá trình phát triển của lịch
sử qua 5 hình thái kinh tế – xã hội. Hệ thống các sơ đồ đơn giản nhưng chứa
đựng hàm lượng tri thức cao sẽ giúp sinh viên có khả năng hệ
thống, khái
quát các vấn đề lịch sử và rèn luyện các kĩ năng tư duy lịch sử.
4
Tham khảo “Những vấn đề lịch sử trong tác phẩm Hồ Chí Minh”- Gs Phan Ngọc Liên - NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội – 2006.
Vấn đề nêu ra để giải quyết là một nội dung tổng hợp và có thể tổ chức
xêmina theo từng nhóm vấn đề như sau:
“Nội dung học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác-
Lênin. Ý nghĩa của nó đối với việc nhận thức các thời kì lịch sử. Dẫn chứng
cụ thể về phần chương trình lịch sử thế giới, lịch sử Vi
ệt Nam đang học”.
Với slideshow sơ đồ trên, giảng viên sử dụng những hiệu ứng về kênh
chữ, kênh hình, hoặc click vào các biểu tượng (icon) liên kết (hyperlink) tìm
đến các trang tư liệu khác để dẫn dắt sinh viên chứng minh các quan điểm cơ Hoặc trình bày về nguyên lý cách mạng vô sản:
- Vấn đề thứ ba: “Vận dụng lý luận trong học tập, nghiên cứu khoa học
lịch sử”.
Đây chính là mục đích và yêu cầu chủ yếu của học phần “Nhập môn sử
học”. Sau khi giới thiệu khái quát toàn bộ chương IV, giảng viên xây dựng
cho sinh viên kế hoạch tự học thông qua một số dự án nhỏ và các bài tập
nhận thức với các yêu cầu cụ thể:
+ Trình bày có hệ thống các khái niệ
m khoa học, nội dung các vấn đề
cơ bản của phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học lịch sử.
+ Vận dụng kiến thức và phương pháp trong học tập và nghiên cứu lịch
sử.
Nhận xét, đánh giá các bài tập nhận thức và tổng kết, giảng viên cần
nhấn mạnh nội dung về rèn luyện năng lực tự học, năng lực dạy học của sinh
viên sau này và
đặc biệt khả năng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo.
***
1. Tên học phần : KHẢO CỔ HỌC ĐẠI CƯƠNG
2. Mã số :
3. Thời lượng : 2 (24,6)
(3 tiết)
1. Các di tích khảo cổ, nơi c
ư trú và mộ táng cổ. Tầng văn hóa khảo cổ.
Các loại di tích khác.
2. Văn hóa khảo cổ.
Chương III
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KHẢO CỔ HỌC
(3 tiết)
1. Điều tra và khai quật khảo cổ.
2. Các phương pháp nghiên cứu ở trong phòng:
- Hệ thống niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối; Các phương pháp
xác định niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối của khảo c
ổ học.
- Các phương pháp nghiên cứu khác.
Chương IV
NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI
(2 tiết)
1. Những bằng chứng khoa học về bằng chứng loài người.
2. Động lực của quá trình chuyển biến từ vượn thành người.
3. Vấn đề cái nòi của loài người.
PHẦN II: CÁC THỜI ĐẠI KHẢO CỔ
Chương V
THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ CŨ
(4 tiết)
1. Khái niệm các thời đạ
i khảo cổ và niên đại.
2. Các giai đoạn phát triển của thời đại đồ đá cũ và đặc điểm mỗi giai