Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2009
_______________
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn,
thách thức. Sự suy thoái ngày càng nặng nề của kinh tế thế giới đã thu hẹp thị
trường xuất khẩu, thị trường vốn và tác động tiêu cực đến kinh tế-xã hội của
nước ta.
Trước tình hình đó, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã đề ra Nghị quyết
về phát triển kinh tế-xã hội năm 2009 với mục tiêu tổng quát là: Tiếp tục kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền
vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác
và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định
chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện
thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010.
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, ngày 11/12/2008 Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP và ngày 09/01/2009 ban hành Nghị quyết
số 01/NQ-CP và nhiều Nghị quyết, quyết định quan trọng khác chỉ đạo, điều
hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009. Ngày 6/4/2009,
Bộ Chính trị đã ra Kết luận về tình hình kinh tế-xã hội quý I/2009 và các giải
pháp chủ yếu từ nay đến cuối năm 2009. Kết luận nêu rõ, mục tiêu hàng đầu từ
nay đến cuối năm là ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Kỳ
họp thứ 5, Quốc hội khoá XII cũng đã ra Nghị quyết điều chỉnh mục tiêu tổng
quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009.
Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Đảng, Quốc hội, Chính
phủ; sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng các doanh
nghiệp và của toàn dân nên kinh tế-xã hội nước ta đang từng bước vượt qua khó
khăn, thách thức và đạt được những kết quả quan trọng. Trên cơ sở số liệu thực
hiện 5 tháng và ước tính tháng 6, Tổng cục Thống kê khái quát kết quả phát
triển kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2009 trên ba mặt: (1) Ngăn ngừa suy giảm
kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; (2) Giữ ổn định
kinh tế vĩ mô, phòng ngừa tái lạm phát cao; (3) Bảo đảm an sinh xã hội.
1
gồm nông nghiệp đạt 70,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8%; lâm nghiệp đạt 3,3 nghìn
tỷ đồng, tăng 3,1%; thuỷ sản đạt 22,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3%.
Nông nghiệp
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm 2009 cả nước đạt 3059,7 nghìn ha,
tăng 46,6 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2008. Các địa phương phía Bắc
đạt 1150,4 nghìn ha, tăng 21 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1909,3
nghìn ha, tăng 25,6 nghìn ha.
Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, năng suất lúa đông xuân năm nay
ước tính đạt 60,9 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng
đạt 18,6 triệu tấn, tăng 31,3 vạn tấn. Các địa phương phía Bắc tuy năng suất
không tăng nhưng do diện tích gieo trồng tăng trên 2 vạn ha nên sản lượng đạt
6,8 triệu tấn, tăng 11,9 vạn tấn. Các địa phương phía Nam đạt 11,8 triệu tấn,
tăng 19,3 vạn tấn, chủ yếu do năng suất tăng 0,2 tạ/ha. Riêng vùng trọng điểm
lúa đồng bằng sông Cửu Long, tuy năng suất giảm 0,8 tạ/ha do chuyển đổi cơ
cấu giống lúa, nhưng diện tích đạt 1548,8 nghìn ha, tăng 22,3 nghìn ha so với
vụ đông xuân trước nên sản lượng đạt 9,9 triệu tấn, tăng 22,9 vạn tấn so với vụ
đông xuân năm trước.
Nét mới trong sản xuất lúa đông xuân năm nay là các địa phương vùng
trọng điểm lúa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long thực hiện
thay đổi cơ cấu giống lúa theo hướng chuyển một phần diện tích trồng lúa năng
suất cao nhưng chất lượng gạo thấp, khó xuất khẩu (IR 50404, OM 576.v.v)
sang gieo trồng giống lúa năng suất tuy thấp hơn nhưng chất lượng gạo tốt,
được giá, dễ xuất khẩu (VNĐ 95-20, OM 2717, OM 2517.v.v..), hoặc chuyển
sang trồng lúa đặc sản, lúa thơm phục vụ tiêu dùng nội địa (Hương thơm số 1,
Bắc thơm số 7 và các giống lúa nếp.v.v).
Các cây trồng khác của vụ đông xuân cơ bản đã thu hoạch xong. Do vào
đầu vụ các tỉnh trọng điểm cây vụ đông vùng đồng bằng sông Hồng bị mưa trên
diện rộng nên sản lượng một số cây công nghiệp ngắn ngày giảm so với cùng
kỳ năm trước. Sản lượng ngô đạt 2,1 triệu tấn, giảm 11%; khoai lang 742,2
3
ha; Đắk Nông 112 ha; Sơn La 72,4 ha.
Thủy sản
4
Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng 6 tháng ước tính đạt 2287,6
nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 1785,9
nghìn tấn, tăng 4,7%; tôm 186,5 nghìn tấn, tăng 3,7%.
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 1125,5
nghìn tấn, tăng 2,4% so cùng kỳ năm trước (cá 904,3 nghìn tấn, tăng 2%; tôm
128,5 nghìn tấn, tăng 2,2%). Riêng sản lượng cá tra thu hoạch ước tính đạt 470
nghìn tấn, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2008. Hiện nay các cơ sở nuôi cá tra
đang gặp khó khăn trong tiêu thụ do các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu
bị tồn đọng sản phẩm nên hạn chế thu mua cá tra nguyên liệu. Mặt khác, giá
thức ăn của thuỷ sản nuôi trồng vẫn ở mức cao và nhiều cơ sở nuôi cá tra khó
tiếp cận nguồn vốn vay hỗ trợ lãi suất nên diện tích nuôi thả cá tra chỉ còn 5,5
nghìn ha, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương có diện tích
nuôi thả cá tra giảm nhiều là: Đồng Tháp giảm 30%; An Giang giảm 20%; Cần
Thơ giảm 17%.
Nuôi trồng các loại thuỷ sản khác có xu hướng tăng nhanh, chủ yếu do các
địa phương tiếp tục thực hiện chuyển đổi và mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ
sản theo hướng kết hợp đa canh, đa con, hướng vào thị trường nội địa nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình nuôi kết hợp
tôm-cá, tôm-cua, tôm-lúa đang trở thành phổ biến ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên
Giang và mô hình lúa-cá cũng bắt đầu phát triển mạnh ở Quảng Bình, Thanh
Hoá. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn phát triển nuôi cá lồng, cá bè. So với
cùng kỳ năm trước, số lồng nuôi cá của Hậu Giang hiện nay tăng 615 lồng
(53,8%), Tiền Giang tăng 274 lồng (21%), Phú Yên tăng 268 lồng (37%), Bình
Thuận tăng 143 lồng (18,2%), An Giang tăng 118 lồng (6%), Đồng Nai tăng
101 lồng (6,5%), ,
Sản lượng thuỷ sản khai thác 6 tháng ước tính đạt 1162,1 nghìn tấn, tăng
7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 1076,7
26,3%; giấy bìa giảm 23,5%; vải dệt từ sợi bông giảm 23,2%; quần áo người
lớn may sẵn giảm 20,4%; thủy hải sản chế biến giảm 8,5%; xe tải giảm 6,8%;
sơn hóa học giảm 5,4%; dầu thực vật tinh luyện giảm 1,8%.
Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn đạt tốc độ tăng giá
trị sản xuất công nghiệp 6 tháng cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Quảng
Ninh tăng 11,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 10,6%; Cần Thơ, Khánh Hòa tăng
6
7,5%; Đồng Nai tăng 7,1%; Hải Phòng tăng 6,9%; Thanh Hóa tăng 6,8%; Bình
Dương tăng 6,1%.
Một số tỉnh, thành phố có tốc độ tăng thấp hoặc giảm là: Vĩnh Phúc giảm
12,1% (chủ yếu do đầu tư nước ngoài về lắp ráp ô tô, xe máy giảm); Phú Thọ
giảm 5,3%; Hải Dương giảm 4,4%; Đà Nẵng giảm 3,7%. Hai thành phố lớn là
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức tăng chậm, trong đó Hà Nội tăng
3,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,8%.
Kết quả hoạt động thương mại
Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Nhờ triển khai các giải pháp kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh khai thác thị
trường nội địa nên tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6
tháng đầu năm 2009 theo giá thực tế ước tính đạt 547,5 nghìn tỷ đồng, tăng
20% so với cùng kỳ năm 2008. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng
hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng tăng 8,8%.
Trong tổng số, kinh doanh thương nghiệp đạt 429,2 nghìn tỷ đồng, chiếm
78,4% và tăng 20,7% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng đạt 61,9
nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3% và tăng 17,3%; dịch vụ đạt 50,9 nghìn tỷ đồng,
chiếm 9,3% và tăng 17,6%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng 6 tháng của hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ước
tính đạt 194,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,4% tổng số cả nước, tăng 18,5% so với
6 tháng đầu năm 2008, bao gồm Hà Nội đạt 69,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5%;
thành phố Hồ Chí Minh đạt 125 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9%.
Kết quả hoạt động vận tải
đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 1,7 triệu thuê bao, tăng 71,8%. Số người sử
dụng internet tính đến cuối tháng 6/2009 ước tính đạt 22,5 triệu người, tăng
11,6% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 6
tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 36,7 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng
kỳ năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 27,5 nghìn tỷ đồng,
tăng 24,5%.
Kết quả hoạt động du lịch
8
Khách quốc tế đến nước ta 6 tháng ước tính đạt 1893,6 nghìn lượt người,
giảm 19,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du
lịch, nghỉ dưỡng đạt 1142,1 nghìn lượt người, giảm 22,1%; đến vì công việc
347,3 nghìn lượt người, giảm 21,9%; thăm thân nhân đạt 280,7 nghìn lượt
người, tăng 1,7%. Khách quốc tế đến bằng đường hàng không đạt 1558,9 nghìn
lượt người, giảm 11,6%; đến bằng đường biển 41,3 nghìn lượt người, giảm
58,5%, đến bằng đường bộ 293,4 nghìn lượt người, giảm 38,4%.
Lượng khách đến nước ta 6 tháng từ hầu hết các quốc gia đều giảm so với
cùng kỳ năm 2008, trong đó khách đến từ Trung Quốc 228,6 nghìn lượt người,
giảm 39%; Hoa Kỳ 225,1 nghìn lượt người, giảm 4,2%; Hàn Quốc 203,7 nghìn
lượt người, giảm 19,9%; Nhật Bản 178 nghìn lượt người, giảm 9,7%; Đài Loan
138,4 nghìn lượt người, giảm 17,3%; Ôx-trây-li-a 114,2 nghìn lượt người, giảm
7,8%.
KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, PHÒNG NGỪA TÁI LẠM
PHÁT CAO
Kết quả đầu tư phát triển
Việc huy động vốn cho đầu tư phát triển gặp khó khăn do tác động của suy
thoái kinh tế thế giới, các nhà đầu tư và các doanh nghiệp thực hiện các biện
pháp bảo toàn vốn hoặc phải tập trung nguồn lực tài chính để duy trì quy mô và
huy động năng lực sản xuất hiện có. Tuy nhiên do các cấp, các ngành tập trung
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong huy động và sử dụng vốn đầu tư; tích cực
triển khai các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng nên hoạt động đầu tư cho