Tài liệu Đề tài " Thông tin và động cơ : Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy " Phần 2 - Pdf 92

Thông Tin và Động Cơ- Nền Kinh Tế của Những Củ Cà Rốt và Cây Gậy
Phần 2
Information and Incentives: Economics of Carrots and Sticks ****
Tác giả: JAMES A. MIRRLEES
HỆ THỐNG THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG
Mô hình thuế mà chúng ta đang xem xét chỉ là một trường hợp trong đó tồn tại sự
không đối xứng về thông tin giữa cơ quan nhà nước (chính phủ) và tác nhân hoặc
những tác nhân (người tiêu dùng). Những cá nhân người tiêu dùng biết nhiều về
năng lực của họ hơn là chính phủ. Chính phủ có thể tự nghĩ rằng họ đang làm việc
với đại diện của người tiêu dùng, nhưng không biết loại người tiêu dùng đó. Có
nhiều quan hệ kinh tế thuộc về quan hệ uỷ thác/đại lý, đặc biệt là quan hệ người sử
dụng/người lao động. Phương pháp phân tích mà tôi đã nêu ra được áp dụng khi
hoạt động của người đại lý có thể quan sát được và có thể xác định được, nhưng
người đại lý biết nhiều hơn người uỷ thác, ví dụ như mối quan hệ giữa nỗ lực
không thể quan sát được và hoạt động. Adam Smith đã biết rằng có một vấn đề
(mặc dù ông không đề cập đến một cách rõ ràng sự không chắc chắn tạo ra một
khả năng lẩn tránh):
Điều thú vị là mọi người cố gắng sống theo điều kiện của mình một cách tốt nhất
có thể ; và nếu mức lương của anh ta giống nhau một cách chính xác, liệu rằng anh
ta có, hoặc không có thực hiện một số trách nhiệm lao động, đó ch ắcn ch ắn là lợi
ích của anh ta, ít nhất đó là thứ lợi ích được hiểu một cách tầm thường, hoặc nếu
anh ta có một số thẩm quyền khiến anh ta không phải làm điều đó, thực hiện nó
một cách bất cẩn và cẩu thả mà thẩm quyền đó cho phép. (
Sự giàu có của các
Quốc gia
)
Có người nghĩ rằng anh ta quá không quan tâm đến hệ thống khuyến khích tiền tệ,
nhưng cần nhớ rằng thẩm quyền có thể là một sự mô tả tốt về mối quan hệ đó. Hệ
thống thanh toán tối ưu, với thông tin không đối xứng, có thể có đặc điểm độc
đoán, nếu nó chỉ ra rằng việc thanh toán tăng lên rất nhanh tương ứng với mức độ
của các nhóm mức lương, và chậm đi với nhóm thu nhập thấp, và không tăng lên

ban hành luật), và định giá bằng những sự thoả dụng. Trong từng hướng phát triển
thú vị đó, trước hết là Baron và Myerson (1982), và sau đó là Laffont và Tirole
(1993) đã chỉ ra làm thế nào một người có thể phân tích sự điều chỉnh bằng cách
bằng cách xem các tập đoàn (doanh nghiệp) như là những tác nhân (đại lý), những
người biết được cơ cấu vốn của doanh nghiệp đó, và những người cầm quyền,
người không chắc chắn về những chi tiêu của doanh nghiệp, người không chắc
chắn về chi phí của doanh nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp và giá cả mà doanh
nghiệp đó đặt ra đối với những sản phẩm đó liên quan đến nhu cầu của thị trường,
và đó là thông tin công khai. Một cách để suy nghĩ về sự điều chỉnh là phải có thuế
về sản phẩm thay đổi. Điều này có thể được phân tích bằng cách sử dụng những
phương pháp mà tôi đã nêu ra.
Tương tự, những thoả dụng cũng làm cho người tiêu dùng thay đổi những ưu tiên,
và có thể liên kết giá cả với số lượng được sử dụng theo một cách thức phức tạp.
Như trong mô hình điều chỉnh, có rất nhiều sản phẩm, và một người sẽ xem xét
việc định giá đồng bộ của tiêu dùng tại các thời điểm khác nhau. Điều này thực sự
khó khi sở thích của người tiêu dùng thay đổi một cách phức tạp, đa chiều.
Phương pháp đơn giản mà tôi đã mô tả trở nên kém hiệu quả khi áp dụng vào
những vấn đề đa chiều như thế, nhưng Wilson (1993) và Armstrong (1996) đã tạo
nên một tiến bộ đáng kể trong việc giải quyết những vấn đề như thế này.
Trong tất cả những phạm vi ứng dụng này, chiều thời gian đóng vai trò quan trọng.
Quay trở lại vấn đề hệ thống thuế, có thể thấy được những vấn đề mới và rắc rối
nảy sinh. Chúng ta có thể nghĩ về việc đánh thuế theo từng thế hệ, hoặc những
nhóm người, theo cách phù hợp với họ. Mỗi thế hệ, mỗi tầng lớp sẽ có phần đóng
góp của mình, nhưng chúng ta có thể xác định được rõ ràng năm sinh, và sử dụng
nó làm cơ sở để đánh thuế. Do đó, về mặt lý thuyết chúng ta có thể xem như có
một hệ thống thuế khác nhau cho mỗi nhóm. Các chính phủ không làm như vậy,
và tôi sẽ quay trở lại vấn đề tại sao và chúng ta có nên chấp nhận chỉnh phủ làm
như vậy.
Giả sử rằng khả năng của mỗi cá nhân có liên quan chặt chẽ đến khả năng trong
tương lai. Hãy xem xét một mô hình trong đó mức lương của mỗi người đều như

một điều cho rằng những người sinh ra ở các thời điểm khác nhau đều chịu một hệ
thống thuế như nhau, chính phủ cần có một đảm bảo, ở một mức chi phí để từ bỏ
những cơ sở mong muốn đối với sự phân biệt thuế.
Có thể mọi người sẽ không nói rõ ra. Giống như một người bắt đầu suy nghĩ làm
thế nào để đi lại, chúng ta sẽ đưa mình vào nhiều rắc rối khi suy nghĩ. Chúng ta
gặp cùng một vấn đề mà Kydland và Prescott (1977) đã xác định trong chính sách
kinh tế vĩ mô. Trong chính sách kinh tế vĩ mô, chúng ta không coi nó là nghiêm
túc. Có một rắc rối không rõ ràng ở đây, có lẽ là trong vấn đề hệ thống thuế đối
với tài sản. TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status