Tài liệu Đề tài " công nghiệp hoá và hiện đại hóa nông thôn " - Pdf 92



TRƯỜNG..........................
KHOA……………………
Tiêu luận Đề tài

Công nghiệp hoá và hiện đại
hóa nông thôn
LỜI MỞ ĐẦU

Với đặc điểm 80% dân số nước ta sống ở nông thôn và trên 70% lực
lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, việc phát triển toàn
diện nông thôn có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự nghiệp phát
triển kinh tế-xã hội ở nước ta. Kinh nghiệm trên thế giới đã chỉ ra rằng
nếu không phát triển nông thôn thì không một nước nào có thể phát triển
ổn định, bền vững với tốc độ cao một cách lâu dài.
Thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hóa nông thôn là một tất yếu
trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước ta nhằm:
1. Thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông thôn, từ đó nâng
cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho bộ phận dân cư khu vực
nông thôn, tăng khả năng tích luỹ nội bộ từ nông thôn và nâng cao
khả năng đầu tư vào khu vực nông thôn

kỳ quá độ và tiến hành xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội. Có 2 loại quá độ lên chủ nghĩa xã hội: quá độ tuần tự và quá độ tiến
thẳng.
Ở các nước quá độ tuần tự hay còn gọi là những nước quá độ từ chủ
nghiã tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù chưa có cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội nhưng cũng đã có tiền đề vật chất là nền đại công
nghiệp cơ khí do chủ nghiã tư bản để lại. Vì vậy, để xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, những nước này chỉ cần tiếp tục đẩy
mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, ứng dụng thành
tựu của nó vào sản xuất, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghiã về
quan hệ sản xuất, phân bố và phát triển sản xuất một cách đồng bộ trong
cả nước. Thực chất của quá trình này là biến những tiền đề vật chất do
chủ nghĩa tư bản để lại thành cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
ở trình độ cao hơn.
Ở các nước tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản
như ở nước ta, sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chât kĩ thuật cho chủ nghĩa
xã hội được thể hiện bằng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có
nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kì
đại hội VI,VII,VIII Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá hiện đại hoá

1
TiÓu luËn triÕt häc
là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Đại hội lần thứ IX của đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần
nữa xác định mục tiêu cho những năm trước mắt: “Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém
phát triển; tập trung sức xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp
nặng quan trọng và công nghệ cao sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để
trang bị và trang bị lại kĩ thuật công nghệ tiên tiến cho các ngành kinh tế

- Tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp với việc đưa máy móc thiết bị
và công nghệ mới vào nông thôn.

2
TiÓu luËn triÕt häc

II. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG
THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Nông nghiệp đã phát triển nhanh về sản lượng đặc biệt là lương
thực nhưng chất lượng nông sản còn thấp, khả năng cạnh tranh còn
yếu kém.

Từ năm 1981 đến nay, nông nghiệp đã phát triển với nhịp độ bình
quân hàng năm là 4,5%. Năm 2000 sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp phát
triển toàn diện tăng bình quân 5%. Sản xuất lương thực tăng nhanh, bình
quân mỗi năm tăng khoảng 1,3 triệu tấn. Lương thực bình quân đầu
người tăng từ 370 kg (năm 1995) lên 435 kg (năm 2000). Năng xuất lúa
từ 32 tạ/ha (năm 1990) lên 43 tạ/ ha (năm 2000). Sản xuất mầu cũng ổn
định, nhất là ngô. Năm 1995 diện tích cả nước mới đạt 55 vạn ha, năng
suất 21 tạ /ha, sản lượng 1,184 triệu tấn. Đến năm 1999 diện tích ngô 69
1 vạn ha, năng suất 25 tạ/ha, sản lượng 1,75 triệu tấn. Cây công nghiệp,
cây ăn quả có bước phát triển khá bình quân 10 năm1990-1999 so với
bình quân 5 năm trước đó: sản lượng lạc tăng 74% cà phê nhân tăng 2,8
lần, cao su tăng 87%, hồ tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3%, bông tăng 2,83
lần. Cây ăn quả cả nước năm 1999 đạt 512,8 nghìn ha.
Chăn nuôi có bước tăng trưởng khá cao và ổn định. Bình quân 10 năm
1990-2000 so với bình quân 5 năm trước đó: đàn lợn tăng 20%, bò tăng
10%, sản lượng trứng tăng 33%.
Thuỷ hải sản tăng liên tục. Hoạt động khai thác thuỷ sản trên sông,
trên biển phát triển mạnh. Đến năm 2000 cả nước có 229,9 nghìn hộ dân

số lượng, qui mô nhỏ, chưa ổn định. Các vùng chuyên canh cây ăn quả,
chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu phát triển dựa trên cơ sở các vùng
truyền thống, thiếu sự tác động của khoa học công nghệ. Hiện nay cả
nước có tới hàng triệu thửa ruộng nhỏ, manh mún tập trung chủ yếu ở
đồng bằng sông Hồng và miền trung. Những thửa ruộng này chỉ phù hợp
với sản xuất bằng lao động thủ công. Đây chính là một trở ngại lớn của
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

3. Nông nghiệp nước ta đã bước đầu được thuỷ lợi hoá, hoá học hoá,
cơ khí hoá, điện khí hoá, áp dụng các thành tựu của khoa học công
nghệ nhưng cơ sở hạ tầng còn thấp, lao động thủ công vẫn còn khá
phổ biến, trình độ khoa học công nghệ còn thấp so với thế giới.

Trong những năm qua nhà nước và nhân dân đã thực hiện nhiều công
trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sự nghiệp phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Tuy nhiên chất lượng các công trình còn thấp cần tiếp tục
được tu bổ, nâng cấp, xây dựng mới. Hiện nay chúng ta đã hình thành
một hệ thống các công trình phân bố trên phạm vi rộng với 743 hồ chứa
nước lớn và vừa, 1017 đập dâng, 4716 cống tưới tiêu, 1796 trạm bơm
đIện và hơn 2000 trạm biến thế chuyên dùng cho thuỷ lợi. Đã xây dựng
được mạng lưới giao thông nông thôn phát triển theo chiều sâu và rộng.
Năm 1994 tỷ lệ xã có đường ô tô về đến trung tâm xã là 86,5%, năm
1999 tăng lên 95%, khoảng 9777 xã. Tuy nhiên đường giao thông lạc hậu
đã gây ách tắc về giao lưu hàng hoá trên thị trường. ĐIện đã xuống được
thôn xóm nhưng chất lượng còn thấp và giá cả cao so với thu nhập của
người dân nông thôn. Năm 1999 có 8 894 143 hộ ở nông thôn có đIện

4
TiÓu luËn triÕt häc
dùng, đạt 69,3% số hộ nông thôn được dùng đIện lưới quốc gia (Nguồn:

Nổi bật là:
- Tỷ trọng nông sản được chế biến còn thấp
- Phần lớn các cơ sở chế biến lúa gạo, chè, mía… được xây dựng từ lâu,
quy trình công nghệ lạc hậu
- Chất lượng nông sản chế biến còn thấp, hiệu quả chế biến còn chưa cao
nên sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém khiến cho người nông dân
gặp nhiều thiệt thòi. 5
TiÓu luËn triÕt häc
4. 2. Chế biến lâm sản.

Công nghiệp chế biến gỗ nước ta đã phát triển thành một mạng lưới
toàn quốc gồm hơn 800 doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Mặc dù
các doanh nghiệp đã cố gắng đầu tư chiều sâu, nhập thiết bị công
nghệmới để tinh chế và nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng nhìn chung
công nghiệp chế biến gỗ ở nước ta còn ở trình độ thấp, sản xuất chủ yếu
ở qui mô nhỏ, phân tán, sản phẩm chủ yếu là gỗ xẻ và đồ mộc các loại từ
gỗ nguyên chiếm tới 68,5% trong khi đồ mỹ nghệ là 3%. Tuy nhiên việc
kết hợp sử dụng công nhân với tay nghề cao đã làm hàng lâm sản chế
biến ở nước ta có khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường ở một số mặt
hàng như thị trường đồ gỗ ngoài trời ở EU.

4.3. Chế biến thuỷ hải sản

Công nghiệp chế biến thuỷ hải sản ở nước ta chủ yếu vẫn chỉ là làm
sạch, bảo quản và đóng hộp. Công nghệ chưa cao và còn thủ công. Tuy
nhiên ngành thuỷ sản vẫn là ngành sản xuất mũi nhọn với mức tăng
trưởng cao, giải quyết nhiều công ăn việc làm. Năm 1999 giá trị xuất

kinh tế nông thôn tương tự là: 70,2%-16,1%-13,7%.

6. Thu nhập và đời sống của tuyệt đại đa số nông dân đã được cải
thiện rõ rệt nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, bấp bênh, tình trạng
thiếu việc làm, nghèo đói, du canh, du cư, di dân tự do đặt ra nhiều
khó khăn cần khắc phục.

Qua 15 năm đổi mới đời sống của phần đông nhân dân ta đã được cải
thiện rõ rệt. Điều kiện sinh hoạt, vui chơi, giải trí được nâng lên. Tỷ lệ hộ
đói nghèo năm 2000 chỉ còn là 10-11%. Bình quân thu nhập của người
dân năm 2000 khoảng gần 350.000 đồng.
Tuy nhiên đời sống của phần lớn dân cư nông thôn vẫn bị chi phối bởi
thiên tai và sự lên xuống thất thường của giá cả thị trường. Đời sống của
bà con nhân dân ở vùng núi, vùng sâu,vùng xa còn rất khó khăn.
Do thu nhập của người nông dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp
nên thu nhập của họ còn thấp, bấp bênh và chênh lệch ngày càng xa so
với thành thị. Điều này thể hiện ở chỗ thu nhập giưã các hộ thuần nông
và các hộ ngành nghề ở nông thôn nước ta đang có sự chênh lệch rất lớn
và thực tế là sau khi đưa vào chế biến công nghiệp, giá trị các sản phẩm
nông nghiệp cao hơn rất nhiều.
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng lớn và đã đạt được thành quả
lớn, song cho tới nay tình trạng di dân tự do và di canh di cư vẫn còn khá
phổ biến ở các dân tộc ít người, những hộ gia đình nghèo khó. Những
vấn đề trên đã gây nên khó khăn cho địa phương có dân đến, dân đi trong
việc quản lý tổ chức và bố trí lao động, ngành nghề sản xuất cho phù
hợp.
Nhìn về tổng thể, những năm qua nông thôn Việt Nam đã có những
chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều vấn đề lớn và khó khăn cần
phải giải quyết. Để khai thác và phát huy được những tiềm năng đồng
thời giải quyết những khó khăn yếu kém đó thì con đường duy nhất là

hoá hiện đại hoá. Trên đất nước ta về cơ bản không còn nạn đói, dự trữ
quốc gia và xuất khẩu lương thực cũng tăng lên đáng kể.
- Tiềm lực của người nông dân được phát huy cả về nguồn lao động cũng
như các phẩm chất cao quý.
- Nền kinh tế nước ta đã và bắt đầu tiếp cận, hội nhập ngày càng sâu rộng
với nền kinh tế thương mại, nền khoa học công nghệ tiên tiến của các
nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục
phát huy nội lực với lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công
nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường phục sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá;
- Cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp và phục vụ nông nghiệp,
nông thôn được tăng cường làm cho sản xuất đạt mức tăng trưởng khá
cao và tương đối ổn định.

8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status