Tài liệu CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ ỐNG KINH – Phần 2 - Pdf 92

CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
VỀ ỐNG KINH – Phần 2
V.16. Thế nào là độ mở của ống kính?Độ mở của ống kính là thuộc tính
quan trọng thứ hai sau chiều dài tiêu cự. Lấy mắt người làm ví dụ. Tròng mắt có
một đồng tử có thể co dãn để điều chỉnh lượng ánh sáng vào mắt tuỳ vào tình trạng
ánh sáng tự nhiên. Lúc trời tối, đồng tử mở rộng để cho nhiều ánh sáng vào hơn,
khi ra ngoài nắng nó lại co vào để giảm lượng ánh sáng, tránh làm hỏng mắt. Phần
lớn cá ống kính máy ảnh đều có một cơ cấu tương tự đồng tử của mắt người- một
màng chắn bằng kim loại hoặc nhựa có thể điều chỉnh để kiểm soát lượng ánh
sáng đi qua. Chính cái lỗ có kích thước thay đổi được trên cái màng chắn đó được
gọi là độ mở của ống kính và được biểu thị bằng một giá trị số học ký hiệu là f.
Giá trị này quyết định lượng ánh sáng sẽ được ống kính cho đi qua và là tỷ số giữa
chiều dài tiêu cự và đường kính lỗ mở trên màng chắn.
Ví dụ, ta chỉnh đường kính lỗ mở của ống kính 50mm bằng 6,25mm, ta có
khẩu độ f/8 (50/6,25=8). Nói chung, cứ mỗi lần chỉnh tăng hoặc giảm khẩu độ một
nấc là ta đã tăng gấp hai hoặc giảm đi một nửa diện tích của lỗ mở. Vì bản thân
khẩu độ đã chứa yếu tố chiều dài tiêu cự (tử số) nên mỗi ống kính đều cho một
lượng sáng như nhau đi qua nếu được đặt ở cùng một giá trị khẩu độ bất kể chiều
dài tiêu cự của ống kính là bao nhiêu (tất nhiên không tính đến sự hao hụt ánh
sáng vì phải đi qua nhiều thấu kính).
Dãy khẩu độ thông dụng của ống kính phim 35mm và các máy ảnh số SLR:
1.0 1.4 2 2.8 4 5.6 8 11 16 22 32
tuy nhiên phần lớn các ống kính đều không có đủ cả dãy khẩu độ trên.
Mỗi lần chuyển khẩu độ một nấc là ta tăng hoặc giảm lượng sáng đi hai lần
đồng thời tăng hoặc giảm diện tích lỗ mở hai lần, chuyển từ f/2.8 sang f/4 là giảm
lượng sáng đi hai lần và giảm diện tích lỗ mở hai lần, ta có một dãy số với công
bội bằng 1,4 (căn bậc hai của 2) mặc dù khi in trên ống kính theo truyền thống
người ta chỉ in theo dãy số trên.Ống kính của các định dạng phim lớn có thể có giá
trị khẩu độ nhỏ hơn nữa như f/64 chẳng hạn.
Dãy số này có vẻ phức tạp nhưng thật ra khá đơn giản, chỉ cần nhớ hai số
đầu 1.0 và 1.4, sau đó nhân đôi lên, 1.0 thành 2; 4; 8 rồi 16; 32 còn 1.4 thành 2.8;

Các ống kính tự động lấy nét của hệ EOS có mô tơ lấy nét đặt trong ống
kính chứ không phải trong thân máy. Một số ống kính lấy nét nhanh hơn các ống
kính khác, tuy nhiên đây hoàn toàn là khái niệm khác, không phải nói đến đặc tính
quang học đang bàn ở trên.
V.18. Vùng ảnh rõ (depth of field) là gì?
Khi lấy nét lên một vật thể nào đó, vật thể này không phải là thứ duy nhất
hiện lên sắc nét. Những vật thể gần hơn hoặc xa hơn vật thể chính này cũng có thể
hiện nên sắc nét tuy không được như đối tượng chính. Khoảng cách giữa các đối
tượng hiện hình tương đối sắc nét trên tấm ảnh cuối cùng của bạn được gọi là
vùng ảnh rõ. Kiểm soát vùng ảnh rõ là một kỹ năng nhiếp ảnh quan trọng có thể
tác động đến sự thu hút của tấm ảnh cuối cùng.
Bạn đang chụp chân dung ai đó ngoài trời, vị trí này cho một ánh sáng tự
nhiên nhưng bạn khó kiểm soát phần hậu cảnh. Nếu bạn đang trong công viên, bạn
sẽ không muốn phần hậu cảnh đầy những cành cây loà xoà, hỗn độn. Bạn muốn
vùng ảnh rõ thật cạn và lấy nét vào mắt người mẫu, đó là nơi bạn muốn nét nhất.
Vùng ảnh cạn sẽ đẩy các cành cây ra ngoài vùng lấy nét, bạn sẽ có một hậu cảnh
mềm mại, với màu xanh dịu nhẹ.
Nhưng nếu bạn chụp một bông hoa trong tự nhiên với bầu trời, núi non hấp
dẫn, bạn sẽ muốn mọi thứ hiện lên sắc nét, lúc này bạn lại muốn vùng ảnh rõ thật
lớn. Có ba yếu tố giúp ta kiểm soát vùng ảnh rõ:
- Khẩu độ: Là yếu tố quan trọng điều khiển vùng ảnh rõ, khẩu độ mở lớn
cho vùng ảnh rõ cạn và ngược lại. Chụp cái gì đó khi ánh sáng yếu, ta mở khẩu hết
cỡ (f/1.8 chẳng hạn) để lấy được nhiều ánh sáng, vùng ảnh rõ sẽ ngắn lại và sẽ trở
thành vấn đề vì việc lấy nét chính xác sẽ khó khăn hơn. Chụp ngoài trời thì ngược
lại, ta hay phải khép khẩu để tránh thừa sáng, vùng ảnh rõ lớn, việc kiểm soát bố
cục sẽ khó khăn.
- Chiều dài tiêu cự: Yếu tố này tạo ra nhiều khác biệt. Ống góc rộng, tiêu cự
ngắn cho vùng ảnh rõ lớn hơn ống tiêu cự dài. Điều này rất có ích. Ống góc rộng
chụp phong cảnh cho vùng ảnh rõ sâu, ống tiêu cự dài chụp chim muông, cho
vùng ảnh rõ cạn, dễ cô lập đối tượng, tạo hiệu quả đẹp.

V.20. Sự khác biệt giữa các mô tơ lấy nét (AFD, MM, USM)?
Khác với các nhà sản xuất máy ảnh khác, Canon đặt mô tơ lấy nét trong các
ống kính chứ không phải trong thân máy khi hệ thống EOS ra đời. Điều này được
cho là khôn ngoan vì mô tơ này được thiết kế theo từng yêu cầu của ống kính. Một
ống kính dài cần một mô tơ lớn, ống kính nhỏ hơn chỉ cần mô tơ vừa phải mà thôi.
Nếu mô tơ này lắp trong thân máy, nó sẽ hoạt động y như nhau cho dù bạn lắp ống
kính gì đi nữa.
Canon sử dụng nhiều công nghệ khi chế tạo các mô tơ này. Hai dạng sơ
khai đầu tiên thì không được ký hiệu trên vỏ ống kính, muốn biết thì chỉ có cách
tra sách mà thôi.
- Mô tơ lấy nét kiểu điện từ truyền thống: Loại mô tơ này dùng nguyên tắc
điện từ thông thường để vận hành trục quay. Các vấu nhỏ và các bánh răng biến
chuyển động quay thành các chuyển động cần thiết để lấy nét.
- Mô tơ dạng vòng cung (AFD- Arc-form drive): Dùng trên một số ống
kính đời cũ, giá thấp. Thực chất đây là một mô tơ điện nhỏ, đơn giản kèm một bộ
truyền lực, khá ồn vì tiếng vo vo của động cơ điện, tiếng nghiến của bánh răng, tốc
độ hoạt động không nhanh. Khoảng cách từ mô tơ đến các thấu kính lấy nét là
không lớn, các ống kính tiêu cự dài với AFD lấy nét khá chậm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status