Tài liệu Tiểu luận: Khả năng vận dụng mô hình công ty mẹ - công ty con trong nền kinh tế Việt Nam - Pdf 93

Tiểu luận

Khả năng vận dụng mô hình công
ty mẹ - công ty con trong nền kinh
tế Việt Nam
MỞ ĐẦU



1
PHẦN I

MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON(CTM-CTC)

1. THỰC CHẤT MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON
CTM-CTC là cách gọi của chúng ta, chuyển ngữ từ tiếng Anh “Holding company”
và “Subsidiaries company” sang tiếng Việt. Holding company là công ty nắm vốn,
Subsidiaries company là công ty nhận vốn. Từ “mẹ-con” là cách gọi suy diễn, có
thể gây hiểu lầm, nếu không đi sâu vào nội dung của từ. Thực chất CTM là một nhà
tài phiệt, quan hệ mẹ - con giữa CTM và CTC là sự chi phối của nhà tài phiệt vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của CTC nhờ có vốn của nhà tài phiệt tại các CTC
đó. Nhà tài phiệt này khác các cổ đông thông thường ở chỗ, do có nhiều vốn nên có
thể cùng lúc là cổ đông của nhiều công ty. Vì là cổ đông của nhiều công ty, hơn thế
nữa, là cổ đông chi phối hoặc đặc biệt đối với hoạt động của các CTC. CTM có thể
là một công ty hoạt động tài chính thuần tuý (chuyên dùng vốn để mua cổ phần tại
các CTC), cũng có thể là một công ty vừa hoạt động tài chính, vừa trực tiếp sản
xuất-kinh doanh.

2. ƯU ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH
Thu hút được nhiều vốn từ xã hội mà vẫn bảo đảm được quyền
quyết định trong CTM cũng như kiểm soát, khống chế hoạt động của các CTC.
Do có khả năng tập trung vốn lớn tạo điều kiện để đáp ứng nhanh
thị trường trong nước cũng như quốc tế, tạo cơ hội cạnh tranh với các tập đoàn
kinh tế trong khu vực và thế giới.
Khả năng tác động toàn diện của CTM vào các CTC do cùng lúc
có vốn tại nhiều CTC nên có tầm nhìn bao quát toàn ngành, toàn thị trường, biết
chỗ yếu, chỗ mạnh của nhiều công ty để có hành vi tác động chính xác tại mỗi CTC
cụ thể.

kinh tế, nâng cao được khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu. Các TCT chiếm
khoảng 50% trong tổng giá trị sản phẩm của các DNNN, các chỉ tiêu về doanh thu,
lợi nhuận, nộp ngân sách đạt khá. Hầu hết các TCT đều đang đảm nhận các vị trí
then chốt trong nền kinh tế quốc dân, đáp ứng các sản phẩm chủ yếu, ổn định giá
cả, góp phần ổn định tình hình nền kinh tế-xã hội. Bên cạnh những mặt đạt được,
các doanh nghiệp này cũng đã bộc lộ một số khuyết điểm.
Qua quá trình hoạt động, hầu hết các TCT đã bộc lộ một số mặt
yếu kém cả về tổ chức và cơ chế tài chính.
+ Hầu hết việc thành lập các TCT đều trên cơ sở tập hợp các
DNNN theo nghị định 388/HĐBT (1991), với các quyết định hành chính theo kiểu
gom đầu mối, liên kết ngang. Vì vậy, nhiều TCT lúng túng trong điều hành và gặp
không ít khó khăn, cha trở thành một thể thống nhất, cha phát huy được sức mạnh
tổng hợp. Nội bộ các TCT cha thể hiện rõ các mối quan hệ về tài chính, vốn, khoa
học công nghệ, thị trường... nên cha gắn kết được các đơn vị thành viên, một số
muốn tách khỏi TCT.
+ Cơ chế chính sách hiện nay còn thiếu đồng bộ, chồng chéo,
cha có quy định rõ về quản lý nhà nước đối với TCT. Cơ chế tài chính cha tạo điều
kiện để sử dụng tối đa các nguồn vốn, nên các TCT rất thiếu vốn hoạt động sản xuất
kinh doanh, chậm đổi mới công nghệ, sản phẩm kém khả năng cạnh tranh, hạn chế
khả năng liên kết, liên doanh để mở rộng quy mô sản xuất.

3
Thực trạng hoạt động của mô hình TCT những năm qua cho
thấy : Cùng với qúa trình đổi mới các DNNN, cần thiết phải đổi mới và chấn chỉnh
lại tổ chức, cơ chế hoạt động của các TCT với mục tiêu đa các doanh nghiệp này trở
thành đầu tầu cho sự phát triển, là nòng cốt và động lực cho công cuộc công nghiệp
hoá - hiện đại hoá của đất nước, tiên phong trong đổi mới công nghệ và nâng cao
chất lợng, hiệu quả hoạt động để cạnh tranh tốt với các tập đoàn lớn của nước ngoài
không chỉ tại Việt Nam, mà còn trên thị trường quốc tế. Một trong những giải pháp
đợc đề cập đến là giải quyết tốt mối quan hệ giữa TCT với các doanh nghiệp thành

4
3. Lợi ích của việc chuyển TCT, DNNN sang mô hình CTM-
CTC

Việc chuyển các TCT và DNNN sang mô hình CTM-CTC có
tác dụng và lợi ích sau đây:
+ Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá vẫn có thể nằm trong
vòng kiểm soát, điều tiết trực tiếp của nhà nước qua bàn tay CTM, điều mà TCT 90-
91 không làm được khi các DNNN chuyển đổi sở hữu, không còn là của nhà nước
100% như cũ, CTM với danh nghĩa là cổ đông sẽ can thiệp vào CTC. Những TCT
bằng quan hệ hành chính không thể can thiệp vào các CTC đợc khi các CTC này
không còn là các DNNN nữa.
+Với chức trách thẩm quyền quản lý vốn nhà nước theo kiểu
công ty thực sự, các CTM sẽ chủ động tích cực xử lý các DNNN được giao quản lý
từ đó, quá trình cổ phần hoá DNNN sẽ nhanh chóng hơn. Cổ phần hoá DNNN hiện
nay chậm là do nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân liên quan đến mô
hình quản lý nói trên: sự không mong muốn của chính những nhà quản lý trực tiếp
DNNN và sự thờ ơ của các TCT 90-91. Một bên thì bị mất quyền lợi do cổ phần
hoá, một bên thì chẳng đợc gì, thậm chí cũng bị mất quyền lợi ở mức độ nhất định.
Nhng khi chuyển thành CTM, Nhà nước sẽ giao vốn của tất cả các DNNN thành
viên, trao quyền và trách nhiệm sinh lợi số vốn này cho CTM. Các DNNN sẽ trở
thành đối tợng định đoạt của CTM. Các CTM sẽ phải tìm mọi biện pháp để thực
hiện nghĩa vụ bảo toàn và sinh lợi vốn trước Nhà nớc. Cơ chế quản lý nhà nước đối
với CTM cũng sẽ là cơ chế tự hạch toán. Với quyền hành mới, vì trách nhiệm và lợi
ích của chính mình, các CTM sẽ không thờ ơ trước tình trạng yếu kém của nhiều
doanh nghiệp thành viên. Họ sẽ cổ phần hoá các DNNN này, biến chúng thành
CTC. Với những DNNN không thể hoặc cha thể cổ phần hoá, CTM sẽ biến chúng
thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. CTM là chủ sở hữu trực tiếp các
DNNN này, buộc chúng phải hoạt động theo định hướng của mình.
+ Với mô hình CTM-CTC, mà cụ thể là cơ chế cổ đông, các

 Công ty liên kết là công ty mà công ty mẹ có vốn góp
những không có quyền chi phối.
 Công ty con ở nước ngoài là công ty con đăng ký hoạt
động theo luật của nước ngoài do một công ty mẹ đăng ký ở Việt Nam đầu tư và
nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối tại công ty đó.
* Quyền chi phối của một công ty với công ty khác là
quyền quyết định của một công ty này đối với nhân sự chủ chốt, tổ chức quản lý, thị
trường và các quyết định quản lý quan trọng của công ty khác do mình nắm giữ
toàn bộ số vốn điều lệ hoặc sử dụng quyền biểu quyết của mình với tư cách là một
cổ đông, bàn giao vốn hoặc sử dụng bí quyết công nghệ tác động đến việc thông
qua hoặc không thông qua các quyết định quan trọng của công ty mà mình có cổ
phần, vốn góp.
 Cổ phần chi phối là cổ phần chiếm trên 50% vốn điều lệ
hoặc ở mức mà theo quy định pháp luật và điều lệ của công ty đủ để chi phối các
quyết định quan trọng của công ty đó.
 Vốn góp chi phối là phần vốn góp chiếm trên 50% vốn điều
lệ hay là mức mà theo quy định pháp luật và điều lệ của công ty đủ để chi phối các
quyết định quan trọng của công ty đó. 6
1.1.2_ Công ty mẹ nhà nước
 Công ty mẹ nhà nước được áp dụng đối với TCT, DNNN
chuyển đổi theo nghị định này sang mô hình CTM-CTC thuộc lĩnh vực, ngành nghề
mà nhà nước nắm giữ 100% vốn.
 CTM nhà nước trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất
kinh doanh và có vốn đầu tư ở các CTC, công ty liên kết dưới hình thức góp vốn cổ
phần hoặc vốn góp liên doanh.
 CTM nhà nước có tư cách pháp nhân, có tài sản, tên gọi, bộ
máy quản lý riêng, tự chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi số tài sản của công ty.

7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status