“Hệ thống các doanh nghiệp Logistics của Việt Nam, thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh Logistics” - Pdf 95

BÁO CÁO MÔN HỌC
KINH TẾ THƯƠNG MẠI

Đề tài

Hệ thống các doanh nghiệp Logistics của Việt
Nam, thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh Logistics”

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I.Cơ sở lí luận về Logistics 2
1.1. Khái niệm về logistics: 2

2.2.2 Những thuận lợi trong hoạt động kinh doanh Logistics của các doanh
nghiệp Việt nam 19
2.2.3. Thực trạng các doanh nghiệp logistics ở Việt Nam hiện nay 20
2.2.4. Đánh giá thực trạng hệ thống các doanh nghiệp logistics của Việt Nam 24
2.2.5. Nguyên nhân của thực trạng yếu kém của các doanh nghiệp logistics ở
Việt Nam hiện nay 32
2.3 Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh Logistics. 37
2.3.1. Các giải pháp vĩ mơ 37
2.3.2. Các giải pháp vi mơ đối với doanh nghiệp 39
KẾT LUẬN 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tồn cầu,Logistics cĩ vị trí ngày càng quan
trọng trong nền kinh tế hiện đại và cĩ ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của
các quốc gia. Logistics khơng phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các
hoạt động liên tục, cĩ quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi
yếu tố tạo nên sản phẩm từ các nhập lượng đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản
phẩm cuối cùng.Cĩ thể nĩi Logistics như mạch máu trong hoạt động của các doanh
nghiệp và của cả nền kinh tế của một quốc gia cũng như nền kinh tế tồn cầu
Ở Việt Nam,Logistics chỉ mới xuất hiện từ những năm 90 của thế kỉ XX…Vì
là một ngành cịn rất mới ở nước ta, thế nên nĩ cần được nghiên cứu một cách cĩ hệ
thống, tồn diện, kỹ lưỡng, để áp dụng cĩ hiệu quả ở nước ta …Trong vòng 20
năm,ngành hoạt động dịch vụ Logistics ở nước ta đã cĩ những bước phát triển mạnh
mẽ,thế nhưng vẫn cịn khơng ít những hạn chế. Hệ thống các doanh nghiệp logistics
Việt nam tuy đơng về số lượng nhưng vẫn cịn nhiều bất cập mà nổi trội hơn cả
chính là hiệu quả của hoạt động.Nếu như khơng cĩ sự thay đổi trong hoạt động
logistics của mình,các doanh nghiệp Logistics Việt Nam sẽ thất thế ngay trên thị
trường của mình
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đĩ,em đã chọn đề tài “Hệ thống các doanh

chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm sốt việc di chuyển và bảo
quản cĩ hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán
thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thơng tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản
xuất cho đến khi hàng hĩa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu
của khách hàng

Điều 233 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 cĩ định nghĩa, Dịch vụ logistics
là hoạt động thương mại, theo đĩ thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều
cơng việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,
các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đĩng gĩi bao bì, ghi ký mã hiệu, giao
hàng hoặc các dịch vụ khác cĩ liên quan đến hàng hố theo thoả thuận với khách
hàng để hưởng thù lao.
Mặc dù cĩ nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics cĩ
thể chia làm hai nhĩm:
Nhĩm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 cĩ
nghĩa hẹp, coi logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hĩa. Tuy
nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại cĩ tính mở, thể hiện
trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác cĩ liên quan tới hàng hĩa”. Khái niệm
logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là cĩ nghĩa hẹp, tức là
chỉ bĩ hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đĩ (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực
quân sự). Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các
yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ.
Theo họ, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ
logistics theo khái niệm này khơng cĩ nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ
vận tải đa phương thức (MTO)
Nhĩm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics cĩ phạm vi rộng, cĩ tác động từ giai
đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hĩa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo
nhĩm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật
liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hĩa và đưa vào các kênh
lưu thơng, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhĩm định nghĩa này

và hiệu quả.
Theo nghĩa rộng Logistics cĩ tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng
hĩa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhĩm định nghĩa này, dịch vụ
logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình
sản xuất, sản xuất ra hàng hĩa và đưa vào các kênh lưu thơng, phân phối để đến tay
người tiêu dùng cuối cùng.
Khi tiến hành điều tra, khảo sát 163 doanh nghiệp tại châu Âu năm 1997, hiệp
hội Logistics Châu Âu (ELA- European Logistics Association) thống kê được quan
điểm của các nhà quản lý châu Âu về nội dung của Logistics như sau
(Coyle, 2003)

Bảng 1.1: Quan điểm của các nhà quản lý châu Âu về nội dung của Logistics
Đơn vị: %
STT Chức năng Châu Âu Đức Pháp Anh
1. Kho bãi 83 86 99 99
2. VC bên ngoài 82 70 92 99
3. Quản lý dự trữ vật tư 81 71 99 81
4. Phân phối 72 68 67 99
5. Vận chuyển nội bộ 63 63 92 89
6. Quá trình đặt hàng 54 52 50 62
7. KHH sản xuất 49 46 50 61
8. Mua sắm 46 37 25 51
9. Dich vụ khách hàng 33 24 23 50
10. Hệ thống thông tin 29 25 42 31
11. Kiểm tra chất lượng 20 15 17 0

Như vậy cĩ thể thấy rằng logistic tập trung vào các vấn đề sau đây
1.2.1 Xác định nguồn cung cấp:
Nội dung của cơng việc định nguồn bao gồm việc đánh giá và lựa chọn nhà cung
cấp tốt nhất. Trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải mua nguyên vật liệu từ


“tiêu cực phí” nếu cĩ. Vì vậy một trong các chức năng của Logistics là phải chỉ ra
việc phân bổ hàng hĩa tối ưu cho các thị trường và con đường vận chuyển cĩ chi phí
thấp nhất.
1.2.5. Bố trí kho hàng
Bố trí kho hàng bao gồm các cơ sở khoa học trong việc thiết kế một nhà kho,
sắp xếp hàng hĩa trong kho cũng như việc di chuyển hàng trong nhà kho đĩ.
1.2.6. Bao gĩi
Nội dung này bao gồm việc thiết kế các bao bì sao cho hợp lý để dễ dàng trong
việc vận chuyển cũng như sắp xếp tối ưu trên các xe nâng hàng. Ngồi ra nội dung
này cịn đề cập tới vấn đề nhận dạng, quản lý hàng hĩa trong kho sao thuận tiện và
nhanh chĩng.
1.2.7. Quản lý mạng cung cấp và phân phối hàng hĩa
Nội dung này bao gồm việc quản lý tồn bộ hệ thống phân phối đã được thiết
lập sao cho chúng hoạt động thực sự cĩ hiệu quả và khoa học.
1.3. Đặc điểm và vai trị của Logistics
1.3.1. Đặc điểm của logistics
1.3.1.1. Logistics cĩ thể coi là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía
cạnh chính: bao gồm logistics sinh tồn,logistics hoạt động và logistics hệ thống.
Logistics sinh tồn cĩ liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Logistics
sinh tồn đúng như tên gọi của nĩi xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người, đáp
ứng các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần
ở đâu. Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nĩi chung.
Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với tồn
bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics hoạt
động liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào vào

trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước
khi đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động. Các yếu tố của

đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm. Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách
mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an tồn và độ tin cậy trong vận
chuyển hàng hĩa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương
thức. Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy
nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-Multimodal Transport
Operator). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện tồn bộ việc vận chuyển hàng
hĩa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho
dù anh ta khơng phải là người chuyên chở thực tế. Như vậy, MTO ở đây chính là
người cung cấp dịch vụ logistics.
1.3.1.5. Logistics là sự phát triển hồn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức:
Tồn bộ hoạt động vận tải cĩ thể được thực hiện theo một hợp đồng vận tải đa
phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hĩa do người tổ chức dịch vụ
logistics đảm nhiệm.Điểm giống nhau là ở chỗ,trên cơ sở hợp đồng mua bán,người tổ
chức dịch vụ logistics sẽ nhận hàng tại cơ sở của từng người bán,gom hàng thành nhiều
đơn vị,gửi hàng tại kho hay nơi xếp dỡ hàng trước khi chúng được gửi đến nước người
mua trên các phương thức vận tải khác nhau.Tại nước người mua,người tổ chức dịch
vụ logistics sẽ thu xếp tách các đơn vị gửi hàng và hình thành các chuyến hàng thích
hợp để phân phối đi đến những địa điểm cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng,
1.3.2.Vai trị của Logistics
1.3.2.1. Logistics là cơng cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung
cấp,sản xuất,lưu thơng phân phối,mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.
Khi thị trường tồn cầu phát triển với các tiến bộ cơng nghệ, đặc biệt là việc mở
cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý

coi như là cơng cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược
doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt
động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên
kết, trong đĩ các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia về
thương mại chỉ đứng hàng thứ 2 so với hoạt động của các doanh nghiệp, ví dụ như
thị trường tam giác bao gồm 3 khu vực địa lý: Nhật, Mỹ-Canada và EU. Trong thị

phong phú và phức tạp hơn, địi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với
dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệp phải làm
sao để lượng hàng tồn kho luơn là nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động lưu thơng nĩi
riêng và hoạt động logistics nĩi riêng phải đảm bảo yêu cầu giao hàng đúng lúc, kịp
thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối
thiểu. Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung
ứng, sản xuất, lưu kho hàng hĩa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quá trình
này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chĩng hơn.
1.4. Nội dung hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Logistics.
Ngày nay người ta cơng nhận logistics là ngành dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng,
nhiều nghiên cứu xem xét cơ sở tạo ra giá trị gia tăng của nĩ.Chúng ta biết rằng, giá
trị của sản phẩm do các yếu tố sau tạo nên: việc hình thành (làm ra) sản phẩm, số
lượng tiền vốn bỏ vào sản phẩm và tiện ích địa điểm, tiện ích thời gian. Như vậy
hiện nay phần giá trị của hàng hĩa (thơng qua giá cả) cĩ 2 yếu tố là thời gian và địa
điểm trao đổi (thực hiện hàng hĩa) được xem xét.
Logistics đĩng gĩp phần giá trị gia tăng của mình vào sản phẩm thơng qua các yếu
tố hình thành nên sản phẩm, tiện ích địa điểm và thời gian.Theo một số nghiên
cứu,các nội dung của hoạt động kinh doanh logistics bao gồm:

1.4.1. Các cơng ty cung cấp dịch vụ vận tải
- Các cơng ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức.
VD: Cơng ty cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt, hàng khơng,
đường biển.
- Các cơng ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức
- Các cơng ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng
- Các cơng ty mơi giới vận tải
1.4.2 Các cơng ty cung cấp dịch vụ phõn phối
- Cơng ty cung cấp dịch vụ kho bãi
- Các cơng ty cung cấp dịch vụ phân phối
1.4.3. Các cơng ty cung cấp dịch vụ hàng hĩa

Bảng 1.2 Kết quả đạt được khi sử dụng thuê ngồi dịch vụ logistics:
Ngành hàng
Mức giảm chi
phí Logistics
(%)
Mức giảm
tổng tài sản
cố định (%)
Giảm vòng
quay đơn
hàng (%)
Hàng tiêu dùng đóng gói 13 15 7
Phân phối/ Bán lẻ 16 14 5
Công nghiệp ô tô 10 11 3
Chế biến gỗ 10 9 9
Hàng điện tử tiêu dùng 15 8 8
Thủy sản 11 10 6
Trung Bình 13 11 6
(Nguồn: Kết quả khảo sát dịch vụ logistics ở Việt Nam năm 2008-cơng ty SCM)

Như vậy chúng ta cĩ thể thấy được lợi ích từ việc sử dụng dịch vụ logistics là
rất lớn.Bên cạnh đĩ cần nĩi thêm là logistics là một cơng cụ hổ trợ đắc lực cho
marketing và kinh doanh bởi vì mục tiêu cuối cùng của nĩ là đem lại các giá trị gia
tăng trong đĩ quan trọng là đưa sản phẩm đến đúng lúc, đúng nơi, đúng chất lượng,
đúng chi phí, giá cả mà khách hàng yêu cầu và mong đợi.Thị trường Logistics của
Việt Nam cịn nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam trước khi đến thời hạn
cuối cùng phải mở cửa tất cả các loại hình dịch vụ của logistics vào năm 2014.
Nếu các doanh nghiệp cũng như chính phủ nhận thức được rõ vị trí,vai trị quan
trọng của logistics tới tổng quan nền kinh tế và cĩ những chính sách,chiến lược phát
triển sẽ cĩ vai trị tác động vào sự phát triển của cả một hệ thống các doanh nghiệp


2.1.Hệ thống các doanh nghiệp Logistics ở Việt Nam hiện nay
Doanh nghiệp logistics là những doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực logistics.Hiểu một cách đơn giản thì doanh nghiệp logistics là những
nhà cung ứng dịch vụ logistics.Ở Việt Nam,tính đến cuối năm 2007 thì trên cả nước
cĩ khoảng 800-900 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực logistics. Trong đĩ,
VIFFAS(Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam) cĩ 97 hội viên (77 hội viên chính
thức và 20 hội viên liên kết),trong đĩ doanh nghiệp Nhà nước chiếm khoảng
20%,cơng ty TNHH,cổ phần chiếm khoảng 70%,cịn 10% là các cơng ty gia đình,tư
nhân làm nhỏ lẻ,tham gia từng phần,từng cơng đoạn Thời gian hoạt động trung
bình của các doanh nghiệp là 5 năm với vốn đăng ký trung bình khoảng 1,5 tỷ
đồng/doanh nghiệp.
Theo một số liệu thống kê cho thấy,trong các doanh nghiệp logistics ở Việt
Nam hiện nay,cơng ty TNHH 100% vốn Việt Nam chiếm khoảng 57%,cơng ty nhà
nước khoảng 7%,cơng ty 100% vốn nước ngồi(hình thức đại lý) chiếm khoảng 25%
và cơng ty liên doanh chiếm 11%.

Theo quy mơ nhân viên,chỉ cĩ 30% số doanh nghiệp logistics cĩ số nhân viên
trên 50 người,khoảng 25% số doanh nghiệp cĩ số nhân viên từ 30 đến 50 người,
42% số doanh nghiệp cĩ số nhân viên từ 10 đến 30 người,cịn lại khoảng 3% số
doanh nghiệp cĩ số nhân viên chỉ dưới 10 người.
Như vậy,các doanh nghiệp logistics Việt Nam tuy nhiều về số lượng nhưng
hầu hết lại là các doanh nghiệp cĩ quy mơ vừa và nhỏ,vốn ít và số lượng nhân viên
cũng rất ít.Điều này ảnh hưởng lớn tới khả năng hoạt động logistics của các doanh
nghiệp cũng như khả năng cạnh tranh và tìm chỗ đứng trong thị trường logistics
Việt Nam hiện nay
2.2.Thực trạng hệ thống các doanh nghiệp logistics ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Thị trường logistics ở Việt Nam.
Cho đến nay theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về logistics như viện
nghiên cứu logistics của Mỹ cho biết chi phí cho hoạt động logistics chiềm tới

Khai quan
Kho bãi
Giao nhận
Vận tải nội địa

(Nguồn : Khảo sát logistics Việt Nam 2008- Cơng ty SCM)

Cũng theo điều tra này,trong số các ngành thuê ngồi logistics thì ngành hàng
tiêu dùng đĩng gĩi chiếm tỷ lệ cao nhất,các ngành cịn lại sử dụng thuê ngồi logistics
như thủy sản,chế biến gỗ

Hình 2.2 : Phần trăm thuê ngồi logistics theo ngành
40%
23%
5%
14%
9%
9%
Hàng tiêu dùng đóng
gói
Thủy sản
Chế biến gỗ
Điện tử tiêu dùng
Phân phối/bán lẻ
Công nghiệp ô tô

(Nguồn : Khảo sát logistics Việt Nam 2008- Cơng ty SCM)
Tiềm năng rất lớn,thị trường ngày càng phát triển với rất nhiều cơ hội hấp dẫn
cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam.Thế nhưng khả năng đáp ứng yêu cầu phát
triển loại hình dịch vụ này của các doanh nghiệp trong nước cịn rất hạn chế, dù thời

khoảng 80% tổng số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, song phần lớn đều
cĩ quy mơ nhỏ, thậm chí cĩ đơn vị chỉ đăng ký từ 300 đến 500 triệu đồng với năm ba
nhân viên kể cả người phụ trách, do vậy chỉ đáp ứng được những cơng việc đơn
giản cho vài khách hàng. Mặt khác, để ký vận đơn vào Mỹ thì phải ký quỹ 150.000
USD, trong khi đĩ nhiều doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hĩa từng bộ phận
đã hình thành các cơng ty cổ phần cĩ vốn khoảng 5 tỉ đồng (tương đương trên

30.000 USD). Với quy mơ vốn này thì khơng thể chen chân được vào thị trường
logistics thế giới
- Về nhân lực của các doanh nghiệp: đa số các cơng ty logistics Việt Nam chỉ
cĩ 10-20 người.Theo ứơc tính của VIFFAS, nếu chỉ tính các nhân viên trong các
cơng ty hội viên (khỏang 140 ) thì tổng số khỏang 4000 người. Ðây là lực lượng
chuyên nghiệp, ngồi ra ước tính khỏang 4000-5000 người thực hiện bán chuyên
nghiệp. Nguồn nhân lực được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Từ trước tới nay,
các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành ngoại thương, hàng hải, giao thơng vận
tải cũng chỉ đào tạo chung các kiến thức cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương, vận tải.
Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về loại hình dịch vụ này cũng chưa nhiều. Ngay
cả như các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực này vẫn cịn quá ít
so với yêu cầu phát triển.
- Về thị trường : Các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp
các dịch vụ ở thị trường trong nước,việc mở rộng thị trường ra nước ngồi và quốc tế
là vơ cùng hiếm hoi.Thế nhưng,ở thị trường trong nước thì các doanh nghiệp
logistics tại Việt Nam hiện cũng mới chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường
logistics, và mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số cơng đoạn của
chuỗi dịch vụ khổng lồ này. Theo Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất
trong logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên
chở được 18% tổng lượng hàng hĩa xuất nhập khẩu. Điều này thực sự là một thua
thiệt lớn cho doanh nghiệp trong nước khi hiện nay cĩ đến 90% hàng hĩa xuất nhập
khẩu được vận chuyển bằng đường biển.
- Về cơ sở hạ tầng: Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại VN nĩi chung cịn nghèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status