Tài liệu QUAN SÁT THIÊN VĂN 4 - Pdf 95

QUAN SÁT THIÊN VĂN
Tác giả: Bùi Dương Hải
5. TAM VIÊN
Ngoại trừ Thất Chính – Cửu Diệu và Tuệ tinh, các ngôi sao khác đều đứng yên tương
đối trên bầu trời, và hằng đêm cả “tầng trời Liệt Túc” đó đều từ từ xoay quanh một điểm
cố định, mỗi ngày lại dịch đi một chút, và sau một năm thì quay trọn một vòng. Điểm đó
gọi là Thiên Cực, và vì ở phía Bắc nên gọi là Bắc Thiên Cực. Thiên Cực, do đó được gọi
là Trung Thiên – trung tâm của bầu trời.
Ngày nay, dưới mặt đất cũng có thể hình dung tương tự rằng nếu đi về hướng Bắc đến
tận Bắc Cực, thì không còn các phương nữa, mọi hướng đều là phương Nam. Do đó
Bắc Cực cũng là trung tâm phương vị trên mặt đất.
Các vua Trung Hoa cho mình là ở giữa mặt Đất, nên tự nhận miền đất mình đang cai trị
là Thiên hạ, Trung quốc, Trung nguyên, còn mình là Thiên tử. Khi đó Kinh đô là Trung
tâm mặt đất, ứng với Bắc Thiên Cực là trung tâm bầu trời. Giữa hai điểm đó là Trục trời
đất. Tư tưởng coi mình ở Trung tâm trái đất không xa lạ gì với các nền Văn minh khác.
Trong suốt mười mấy thế kỷ, người phương Tây vẫn cho rằng thành thánh Jerusalem là
trung tâm thế giới, 3 châu Âu, Á, Phi xòe ra như 3 cái lá; người Hồi giáo cũng coi Mecca
là tâm thế giới. Trước đó, người Hy Lạp cho núi Olymper là nơi Thiên đình ở, cũng như
người Ấn Độ cho núi Meru (Tu Di) huyền thoại là Trục Vũ trụ, xuyên xuống bên ở bờ
sông Hằng.
Trong khi người Hy Lạp quan tâm đến các chòm sao nằm trong Hoàng đới thì người
Trung Hoa lại quan tâm nhiều hơn đến Thiên Cực. Dưới mặt đất chia ra Cửu châu
(1)
Ngũ phục, thì trên trời cũng chia làm Cửu trùng các khu vực tinh tú. Chỉ có điều Trời thì
quay quanh Thiên Cực còn Đất thì cố định. Một điều lưu ý nữa là phương vị trên trời
ngược với dưới mặt đất, tức phía Đông ở bên trái, Tây bên phải, Nam ở trên còn Bắc ở
dưới.
Ngũ phục là 5 vùng tính từ Trung tâm (kinh
đô) ra với khoảng cách 500 dặm: Điện phục
là vòng trong cùng nơi vua ở, Hầu phục là
vòng tiếp theo, cho các quan và chư hầu,

bản
Dưới đây là danh sách các chòm sao và sao riêng trong vòng Tử Vi, theo thư tịch đời
Thanh, 1744, con số trong ngoặc là số sao của chòm. Bốn chòm quan trọng nhất thì các
ngôi sao đều có tên riêng, các chòm khác thì sao chỉ đánh số thứ tự (nhất, nhị, tam…)
Một số ngôi tuy ở gần các chòm nhưng không thuộc về chòm đó, được đánh thứ tự
riêng.
Các Tiểu quan tinh trong Cung Tử Vi
1. Bắc Cực (5 sao Thuộc chòm Ursa Minor – Tiểu Hùng)
i. Thái tử sao γ
ii. Đế sao ζ
iii. Thứ tử sao ε
iv. Hậu cung sao δ - Yildun
v. Thiên cực sao α - Polaris
2. Tứ phụ (4 sao)
3. Câu Trần (6 sao)
a. Thiên Hoàng Đại đế
4. Thiên Trụ (5 sao)
5. Ngự Nữ (4 sao)
b. Nữ sử
c. Trụ sử
6. Thượng Thư (5 sao)
7. Thiên Sàng (6 sao)
8. Đại Lý (2 sao)
9. Âm Đức (2 sao)
10. Lục Giáp (6 sao)
11. Ngũ Đế Nội Tọa (5 sao)
12. Hoa Cái (7 sao)
13. Cống (9 sao)
14. Tử Vi Tả viên (8 sao), gồm
i. Tả Xu

k. Tướng quốc
20. Thiên Lý (4 sao)
m. Thái Dương thủ
n. Thái tôn
21. Thiên Lao (6 sao)
22. Thế (4 sao)
23. Văn Xương (6 sao)
24. Nội Cấp (6 sao)
25. Tam Sư (3 sao)
26. Bát Cốc (8 sao)
27. Phó Xá (9 sao)
28. Thiên Trù (6 sao)
29. Thiên bồi (5 sao)
(Về vị trí chính xác của các vì sao trong vòng Tử Vi, có thể xem phụ lục)
Cung
Tử
Vi
Nhìn tổng thể Cung Tử Vi, có thể thấy đó giống như một khu vực Thiên cung của
Thượng đế. Hai bên trái phải là hai bức tường vòng Tả hữu Tử Vi viên, do các vị thiên
quan tối cao như Tể, Phụ, những thiên thần Vệ, Thừa, Úy. Cửa phía trước được bảo vệ
bởi Bắc Đẩu Thất tinh, phía sau là khu để báu vật. Giữa Tòa cung đó là Thiên Cực có 4
ngôi sao canh gác, liền trước là ngôi bản mệnh Hoàng gia: Vua ở giữa hai con là Thái tử
và Thứ tử, tiếp đến là Hậu cung. Thiên Hoàng Thượng đế ngự ở giữa các lớp màn
trướng, trước có Ngự nữ, Nữ sử đứng hầu, phía sau là 6 vị thần tướng bảo vệ, một bên
là chỗ của Ngũ Đế
(3)
, bên kia là 5 vị Thượng thư chầu. Trong cung đó có Âm đức, có
Thiên lý tượng trưng có Uy đức và Quy luật của trời.
Bên ngoài hai bức tường là các khu hỗ trợ: nơi xử án (Thiên lý), nơi học tập (Văn
Xương), nhà bếp (Thiên trù), kho lương thực (Bát cốc), nhà giam (Thiên lao), nhà khách

2. Ngũ Chư hầu (5 sao)
3. Cửu Khanh (3 sao)
4. Tam Công (3 sao)
5. Nội Bình (4 sao)
6. Thái Vi Tả viên (5 sao)
i. Tả chấp pháp
ii. Đông thượng tướng quốc
iii. Đông thứ tướng quốc
iv. Đông thứ tướng quân
v. Đông thượng tướng quân
7. Thái Vi Hữu Viên (5 sao)
i. Hữu chấp pháp
ii. Tây thượng tướng quân
iii. Tây thứ tướng quân
iv. Tây thứ tướng quốc
v. Tây thượng tướng quốc
d. Lang tướng
8. Lang Vị (15 sao)
9. Thường Trần (7 sao)
Tam Đài: gồm
10. Hạ Đài (2 sao)
11. Trung Đài (2 sao)
12. Thượng Đài (2 sao)
e. Hổ Bôn
13. Thiếu Vi (4 sao)
14. Trường Viên (4 sao)
15. Linh Đài (3 sao)
16. Minh Đường (3 sao)
f. Yết Giả.
Cung

3. Hộc (4 sao)
4. Liệt Xứ (2 sao)
5. Xa Tứ (6 sao)
6. Tông Chính (2 sao)
7. Tông Nhân (4 sao)
8. Tông (2 sao)
9. Bạch Độ (2 sao)
10. Đồ Tứ (2 sao)
11. Tả Viên (11 sao)
i. Vệ
ii. Triệu
iii. Cửu Hà
iv. Trung sơn
v. Tề
vi. Ngô việt
vii. Từ
viii. Đông hải
ix. Yên
x. Nam hải
xi. Tống
12. Hữu Viên (11 sao)
i. Hà trung
ii. Hà gian
iii. Tấn
iv. Trịnh
v. Chu
vi. Tần
vii. Thục
viii. Ba
ix. Lương

Xuân Thu Chiến quốc đều có tên trong vùng này, xa nhất là đến biển Đông hải, Nam hải
Chính việc “quy hoạch” bầu trời theo các chức danh quan lại, cũng như các vùng đất, đã
nảy sinh truyền thống xem tượng trời để đoán vận mệnh quốc gia, địa phương, đoán
“Thánh nhân ra đời” “ứng vào địa phận…” như trong truyền thuyết dã sử, thậm chí chính
sử.
Trên bản đồ tổng quát, Tam Viên là ba khu vực trên bầu trời phía gần Bắc Cực, nằm
giữa Nhị thập bát tú, lệch về hướng Nam và Đông. Trục trái đất lệch với mặt phẳng
Thiên xích đạo một góc 23,5 độ, cũng như mặt phẳng Thiên xích đạo lại lệch so với mặt
phẳng quỹ đạo mặt trăng, gây nên việc quan sát phải có những điều chỉnh theo, và
tượng trời cũng không có tính đối xứng hoàn toàn.Vị trí Tam Viên trên bầu trời phương Bắc, ở giữa là
Thiên Cực, xung quanh là Nhị thập bát tú
.
Đặc biệt là việc chia hướng trên bầu trời, khái niệm về Đông Tây Nam Bắc nếu như lấy
Thiên Cực Bắc làm gốc tọa độ, tương ứng với bốn mùa, là cơ sở cho Thiên văn và Vũ
trụ quan của người Trung Hoa.
(1) 9 Châu cổ đại là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung
(2) Trong tiếng Hán, có 2 chứ cùng đọc là Tướng, viết khác nhau, với 2 nghĩa tướng quốc (chính
trị - hành chính, có người đọc là Tương) và tướng quân (quân sự). Ở đây để không nhầm lẫn, dù
tên sao chỉ có 1 chữ, nhưng tôi phải chuyển sang là Tướng quốc hoặc Tướng quân để phân biệt.
(3) Ngũ Đế, cũng có nhiều thuyết về Ngũ đế: [1]. Phục Hi, Thần Nông, Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn
– lúc này Ngũ đế có Tam hoàng, ngôi vị không thua kém Thiên Hoàng Thượng đế. [2] Thái Hiệu,
Hoàng đế, Thần Nông, Thiếu Hiệu, Chuyên Húc [3] Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hiệu,
Chuyên Húc,… Ở đây có thể coi Ngũ đế là tượng trưng cho Vua nói chung.
(…) Thượng thư là đứng đầu các bộ. Triều đình dưới đất có 6 bộ là Lễ, Binh, Hình, Lại, Công,
Hộ, thì trên Thiên đình có bộ Ôn, Đẩu, Hỏa, Vũ, Lôi …
(…) Tam Công: Thái sư, Thái phó, Thái bảo, có vai trò cố vấn cho vua. Cửu khanh: 9 chức quan
từ thời Chu: Chủng tế, Tư đồ, Tăng bá, Tư mã, Tư không, Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo, coi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status