Tài liệu TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TẠO DỤNG TRI THỨC ĐẾN KHOA HỌC TRI THỨC - Pdf 95

Kỷ yếu Hội thảo ICT.rda’03 Proceedings of ICT.rda'03. Hanoi Feb. 22-23, 2003
1

TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TẠO DỤNG TRI THỨC
ĐẾN KHOA HỌC TRI THỨC
From Artificial Intelligence and Knowledge
Management to Knowledge ScienceHồ Tú Bảo

Abstract
This paper summaries the talk at the ICT.rda conference for introducing the basic con-
cepts, the current development, and the relation between two fields of artificial intelligence
and knowledge management. The new field of knowledge science is also briefly introduced.

Tóm tắt

Bài viết này tóm lược của những nội dung chính sẽ được trình bày tại ICT.rda nhằm giới
thiệu một số khái niệm cơ bản, tình hình phát triển, mối quan hệ của hai lĩnh vực trí tuệ nhân
tạo và tạo dụng tri thức, và một trong những con đường đến một lĩnh vực mới

khoa học tri
thức.
1. DẪN NHẬP
Có thể nói nôm na rằng tri thức là những
hiểu biết đã được kiểm nghiệm. Gần đây ta
nghe nói nhiều hơn rằng tri thức là sức mạnh và

các tổ chức hiện đại. Do những thay đổi sâu
sắc về môi trường thông tin và kinh tế, TDTT
đang thu hút sự quan tâm rộng rãi, đang thách
thức và cũng mở ra nhiều cơ hội trong kinh
doanh, xã hội, quản lý, khoa học và công nghệ
[2], [4], [7], [17], [22], [23], [28].
Phần đầu của bài này điểm lại các khái
niệm dữ liệu, thông tin, tri thức, phân tích mục
tiêu khai thác và sử dụng tri thức trong TTNT.
Phần này cũng giới thiệu vấn đề đưa vào và
dùng được tri thức trong việc ra quyết định và
các hệ hỗ trợ quyết định. Phần chính của bài
này tập trung trình bày những khái niệm cơ bản
của TDTT, lý thuyết và ứng dụng của TDTT
tại Nhật bản. Phần cuối của báo cáo giới thiệu
những bước đi ban đầu về một khoa học
mớikhoa học tri thức (knowledge science).
2. TRÍ TUỆ NHÂ N TẠO VÀ TRI
THỨC TRONG HỆ HỖ TRỢ QUYẾT
ĐỊNH

Trí tuệ nhân tạo là một nhánh
của khoa học và công nghệ liên
quan đến việc làm cho máy tính
có những năng lực của trí tuệ
con người, tiêu biểu như các khả
năng “suy nghĩ”, “hiểu ngôn
ngữ”, và biết “học tập” của máy.
Máy tính sinh ra chủ yếu thực
hiện việc tính toán, trí tuệ nhân

trên tri thức (knowledge-based decision
support systems), phát hiện tri thức và khai
phá dữ liệu (knowledge discvovery and data
mining [12]), khoa học tri thức (knowledge
science),
Ra quyết định là một quá trình chọn lựa
trong nhiều khả năng có thể có để hành động
đạt mục đích. Herbert Simon (1911-2001)
cho rằng “toàn bộ quá trình quản lý đồng
nghĩa với việc ra quyết định”. Việc ra quyết
định nói chung rất khó vì thường liên quan
đến nhiều người, đến nhiều mục tiêu khác
Kỷ yếu Hội thảo ICT.rda’03 Proceedings of ICT.rda'03. Hanoi Feb. 22-23, 2003
3
nhau, có nhiều chọn lựa, khó dự đoán tương
lai, có nhiều rủi ro, con người có thái độ khác
nhau về rủi ro, …
Lý thuyết các hệ hỗ trợ quyết định
(HTQĐ) “cổ điển” cho rằng, về cơ bản việc
ra quyết định phải dựa trên mô hình quyết
định trong từng lĩnh vực cụ thể, phải đánh
giá mô hình bằng dữ liệu trong tình huống
cần quyết định, và kết hợp với ý kiến người
sử dụng. Mô hình truyền thống của các hệ hỗ
trợ quyết định do vậy bao gồm ba thành phần
chính: quản trị dữ liệu, quản trị mô hình, và
giao diện với người sử dụng [29].
TTNT góp một cách nhìn mới về các hệ
HTQĐ trong đó tri thức được xem là thành
phần thứ tư, và thiết yếu trong việc ra quyết

and using knowledge for strategic value”,
KM SIG).
 “TDTT là quá trình qua đó các tổ chức tạo
ra giá trị từ sở hữu trí tuệ và sở hữu dựa
trên tri thức của mình. Thông thường, tạo
ra giá trị từ các sở hữu như vậy liên quan
đến việc chia sẻ giữa nhân viên, giữa các
bộ phận, thậm chí giữa các công ty nhằm
đạt hiệu quả cao nhất. Định nghĩa này
không nói gì về công nghệ, và xem bản
thân công nghệ không phải là TDTT, mặc
dù TDTT thực hiện được dễ dàng nhờ
công nghệ.” (“KM is the process through
which organizations generate value from
their intellectual and knowledge-based
assets. Most
often,
generating value
from such assets
involves sharing
them among
employees,
departments and
even with other
companies in an
effort to devise
best practices.
It's important to
note that the
definition says

organizations create, capture and reuse
knowledge to achieve organizational
objectives.”, Intranet Journal,
http://www.intranetjournal.com
)
 “Tạo dụng tri thức nhằm đến các quá trình
sáng tạo, nắm bắt, chuyển giao và sử dụng
tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của
các tổ chức” (“Knowledge management
refers to the processes of creating, capturing,
transferring and using knowledge to
enhance organizational perfor-mance”,
Public Service Commission of Canada,
1998).
 “Chiến lược có ý thức để có được tri thức
cần thiết cho đúng người cần ở đúng lúc cần,
giúp mọi người chia sẻ và đưa thông tin vào
hành động theo nhiều cách để nâng hiệu quả
hoạt động của tổ chức” (“A conscious
strategy of getting the right knowledge to
the right people at the right time and
helping people share and put information
into action in ways that strive to improve
organizational performance”, O’Dell &
Grayson, 1998).
 “Tạo dụng tri thức tôi dùng đây không
phải là sản phẩm phần mềm hoặc một
phạm trù phần mềm nào cả. Tạo dụng tri
thức thậm chí không bắt đầu với công
nghệ. Nó bắt đầu với mục tiêu kinh doanh

“tạo dụng tri thức” cho “knowledge
management”.
TDTT được thực hiện một phần quan
trọng nhờ vào công nghệ nói chung [6], [10],
trong đó có vai trò thiết yếu của CNTT [4],
[5], [24], và đặc biệt là TTNT [8], [11], [18],
[27]. Các hệ thống và công cụ của TDTT
Kỷ yếu Hội thảo ICT.rda’03 Proceedings of ICT.rda'03. Hanoi Feb. 22-23, 2003
5
cũng là một chủ đề quan trọng của TDTT [3],
[19]. Một số công nghệ thường được xem có
liên quan đến TDTT là: Intranets, Document
Management, Information Retrieval,
Relational and Object Databases, Electronic
Publishing, Groupware and Workflow
Systems, Push Technolo-gies and Agents,
Help-Desk Applica-tions, Brainstorming
Applications, Data Warehousing and Data
Mining [4], [5].
3.2 Lý thuyết và thực tế về tạo dụng tri
thức ở Nhật bản
Chúng ta đã và đang tồn tại và phát triển
trong một môi trường với duy nhất một điều
chắc chắn là sự không chắc chắn của chính
môi trường. Đối đầu với các chuyện sống còn
này, các công ty Nhật bản đã tìm ra con
đường thành công riêng của mình. Sự thành
công này đã luôn là điều bí ẩn và người nước
ngoài luôn thấy khó hiểu. Con đường thành
công của Nhật bản trong kinh doanh có thể

Tri thức hiện (explicit knowledge) là tri
thức diễn đạt được bằng ngôn ngữ hình thức
và có thể dễ dàng
trao đổi giữa các
cá nhân. Tri thức
hiện có thể biểu
diễn bằng các
công thức khoa
học, các thủ tục
tường minh, hoặc
bằng nhiều cách
khác nhau bao
gồm cả thông tin,
dữ liệu, sách báo,
văn bản, tài liệu
đã được hệ thống
bằng nhiều
phương tiện. Tri
thức hiện được
đặc trưng bởi các tiếp cận lý thuyết, các cách
giải quyết vấn đề, tài liệu, cơ sở dữ liệu, cơ sở
tri thức.
Tri thức ngầm (tacit knowledge) có được
và ẩn chứa trong kinh nghiệm của từng cá
nhân, mang tính chủ quan, bao gồm cả những
hiểu biết riêng thấu đáo, trực giác, linh cảm, kỹ
năng, … khó trao đổi hoặc chia sẻ với người
khác. Tri thức ngầm chỉ có thể học được từ
người khác nhờ quan hệ gần gũi trong một
Kỷ yếu Hội thảo ICT.rda’03 Proceedings of ICT.rda'03. Hanoi Feb. 22-23, 2003

nước cũng như sự quy củ, khuôn phép với thức
cao về bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc biệt,
mang tính cách Á đông, nhưng họ chấp nhận
nhiều ảnh hưởng của phương Tây theo phong
cách riêng của mình. Nhật bản tiếp xúc với
phương Tây từ thế kỷ 16, chủ yếu trong học
hỏi chế tạo súng. Từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ
19 họ học hỏi nhiều từ Hà Lan. Một khẩu hiệu
từ giai đoạn Minh Trị: “Cần phải tìm kiếm tri
thức ở mọi nơi trên thế giới”. Thế kỷ 19-20
Nhật bản tăng cường tiếp thu tinh hoa của thế
giới nhằm đẩy mạnh vị thế quốc gia, thông qua
cả chiến tranh và hòa bình.
Tác phẩm cuả Nonaka và Takeuchi [22] chỉ
rõ sự khác biệt giữa Nhật bản và phương Tây
về khái niệm tri thức cũng như cách tư duy.
Chỉ ra rằng sáng tạo tri thức là chìa khóa của
sự cách tân, thông qua cách tân những tri thức
ngầm được chuyển hóa thành tri thức hiện và
ngược lại, dựa trên sự xã hội hóa và sự kết hợp.
Trong những năm gần đây, Nonaka và cộng sự
phát triển tiếp lý thuyết về TDTT với các khái
niệm ba, mô hình SECI, sở hữu tri thức, và
quan hệ giữa chúng [17], [30].
Quản lý tri thức dựa
trên những thông tin
có thể dễ dàng kiểm
chứng, phân tích, đánh
giá Nhiệm vụ quan
trọng nhất là có thể

Institute of Science and Technology). Mục
tiêu chính nhằm tạo sự phát triển mới của tạo
dụng tri thức, và tiến hành các nghiên cứu
liên quan đến nền tảng cho một xã hội tri
thức dựa trên sự kết hợp của khoa học quản
lý, khoa học hệ thống, và khoa học thông tin.

5. KẾT LUẬN
Tri thức là thứ nói chung không thể mua
không thể cho không biếu không mà chỉ có thể
có được qua học tập và sáng tạo của từng cá
nhân và tổ chức. Tạo ra và sử dụng tri thức là
cốt tử trong các hoạt động kinh tế, quản lý, khoa
học, xã hội, … và liên quan chặt chẽ với các tiến
bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt là tiến bộ
của công nghệ thông tin. TDTT là một lĩnh vực
cần được tìm hiểu nhiều hơn ở nước ta trong
thời gian tới đây.

Lời cám ơn
Tác giả chân thành cám ơn ban tổ chức hội
nghị ICT.rda. Bài này viết nhằm giới thiệu một
lĩnh vực hết sức quan trọng trong những hạn chế
về cả hiểu biết cả thời gian của tác giả. Hy vọng
những nội dung này sẽ được bổ sung và tiếp tục
phát triển. Xin cám ơn mọi góp ý và trao đổi.

Tài liệu tham khảo

1. Ackerman, M., Pipek, V., and Wulf, V (2003).

foundations, KMCI Press.
10. Frid, R. J. (2002). Infrastructure for
knowledge management, Writers Club Press.
11. Gomez-Perez, A. and Benjamins, V.R. (2002).
Knowledge engineering and knowledge
management: Ontologies and the semantic
web (Eds.), 13th International Conference,
EKAW 2002, Siguenza, Spain, October 1-4.
Springer.
12. Hand, D., Mannila, H., and Smyth, P. (2001).
Principles of data mining, The MIT Press.
13. Ho Tu Bao (2001). An introduction to studies
on intelligence, textbook, Jaist.
14. Holsapple, C.W. (2003). Handbook on
knowledge management (Ed.), Springer.
15. Honeycutt, J. (2000). Knowledge management
strategies, Microsoft Press.
16. Knight, T. and Howes, T. (2003). Knowledge
management: A blueprint for delivery,
Butterworth-Heinemann.
17. Krogh, G., Nonaka, I, and Nishiguchi, T.
(2000). Knowledge creation: A source of value
(Eds.), St. Maritin's Press.
18. Liebowitz, J. (2001). Knowledge management:
Learning from knowledge engineering, CRC
Press.
19. Maier, R. (2002). Knowledge management
systems: Information and communication
technologies for knowledge management,
Springer Verlag.

29. Turban, T. and Aronson, J.E. (1998). Decision
support systems and intelligent systems, Fifth
Edition, Prentice Hall.
30. Umemoto, K. (2002). “Managing existing
knowledge is not enough: Knowledge
management theory and practice in Japan”, in
Strategic Management of Intellectual Capital
& Organizational Knowledge, Choo, C.W.
and Nick Bontis (Eds.), Oxford University
Press, pp.463-476.About the Author:
Professor Ho Tu Bao re-
ceived a B.Eng. degree
from Hanoi University of
Technology in 1978, M.S.
and Ph.D. degrees from
University Paris 6, in 1984
and 1987, a Habilitation
dipl
ôme in 1998 from Uni-
versity Paris Dauphine. He
is currently a professor at School of Knowledge, Japan
Advanced Institute of Science and Technology (JAIST).
His research interests include artificial intelligence,
machine learning, knowledge-based systems,
knowledge discovery and data mining.
Email: [email protected]
Kỷ yếu Hội thảo ICT.rda’03 Proceedings of ICT.rda'03. Hanoi Feb. 22-23, 2003


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status