Trường………………….
Khoa………………
[\[\
ĐỀ ÁN
Việt Nam trong xu thế hội
nhập và phát triển dưới con
mắt triết học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTLỜI MỞ ĐẦU
Kể từ sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba (1913 – 1950), sự
phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển nhanh
chóng của lực lượng sản xuất vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, mở rộng trên
phạm vi toàn thế giới theo cả chiều rộng và chiều sâu. Do đó, tất cả các quốc gia
không phân biệt trình độ đã và đang hình thành mối quan hệ gắn bó lẫn nhau.
Đường
biên giới quốc gia và khoảng cách địa lý trở nên mờ nhạt, các tổ chức kinh tế khu vực
và toàn cầu nối tiếp nhau ra đời. Sự ra đời của các tổ chức lớn như WTO, APEC,
NAFTA và gần đây là sự ra đời của các khu vực đồng tiền chung Euro đã là ví dụ
điển hình trong thiên niên kỉ mới này, cuộc cách mạng công nghệ tiếp tục đi sâu, mở
rộng ứng dụng công nghệ tin họ
phát triển dưới con mắt triết học”.
Và em hi vọng đề tài này sẽ giải đáp được phần nào thắc mắc về vấn đề
hội
nhập và toàn cầu hoá ở nước ta hiện nay.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTPHẦN 1
CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Lý luận triết học
Phép biện chứng đã khẳng định: các sự vật, các hiện tượng, các quá trình khác
nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, và cũng đồng
thời khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của các mối liên hệ đó.
Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có
đa dạng, phong phú, có khác
nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy
nhất, thống nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn
tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau
theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng
định rằng, mố
i liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự chuyển hoá
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện
tượng trong thế giới. Do đó mọi mối liên hệ đều mang tính khách quan, là vốn có của
mọi sự vật, hiện tượng.
Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan, mà còn mang tính phổ biến. Bởi
lẽ, bấ
t cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác. Không có
sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Trong thời đại ngày nay không một
quốc gia nào không có quan hệ, không có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt
lượng sản xuất thấp kém, giao thông chưa phát triển, việc sản xuất và trao đổi hàng
hoá còn bị giới hạn trong các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, năng suất thấp nên chưa có
thị trường thế giới theo nghĩa hiện đại. Từ khi phương thức sản xuất TBCN ra đời,
đặc biệt là từ khi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp, đời s
ống kinh tế các nước có
sự thay đổi căn bản. Tình trạng tự cấp, tự túc và bế quan toả cảng của các địa
phương, các dân tộc trước kia được thay thế bằng sự sản xuất và tiêu dùng mang tính
quốc tế. Tuy nhiên, cho đến trước Thế chiến thứ 2, hình thức quốc tế hóa chủ yếu vẫn
là phân công áp đặt trực tiếp, tức là các nước phát triển áp dụng chiến tranh xâm lược
và bạo l
ực để thống trị các nước lạc hậu, bóc lột, vơ vét tài nguyên và tiêu thụ hàng
hoá. Trong đó, mỗi nước đế quốc có một hệ thống thuộc địa riêng, phân công lao
động và quốc tế hoá còn mang tính chất cát cứ, làm cho các nước lạc hậu không thoát
khỏi tình trạng khó khăn trì trệ.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTTừ sau Thế chiến 2, do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học – kỹ thuật,
lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hết sức nhanh chóng.
Thêm vào đó là thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, làm cho hệ thống phân
công lao động quốc tế theo lối áp đặt trực tiếp phải sụp đổ và thay thế bằng hệ thống
phân công mới gọi là toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình phát
triển mới của phân công lao động và hợp tác sản xuất vượt ra khỏi biên giới một quốc
gia vươn tới qui mô toàn thế giới, đạt trình độ chất lượng mới.
Như vậy, toàn cầu hóa kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoá sản
xuất, của tốc độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự thúc đẩy
của khoa h
ọc, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nó là kết quả tất yếu của sự phát triển
sâu rộng nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới, sự gia tăng phân công lao
động quốc tế, sự mở rộng hơn nữa trong không gian và thời gian các mối quan hệ
ngoài lề của sự phát triển.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTII. CƠ SỞ THỰC TẾ :
1. Tình hình quốc tế và khu vực làm nảy sinh và phát triển quá trình hội
nhập.
Đại hội VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế
nước ta trên trường quốc tế”. Đại hội lần thứ IX khẳng định chủ trương “phát huy cao
độ nội lực, đồ
ng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”.[Trích văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX – trang 89] Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được đề ra
trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn ra nhanh chóng, phức tạp, khó
lường trước được, với những
đặc điểm sau:
Trong hơn thập kỉ qua, kinh tế thế giới nhìn chung phát triển không đồng đều.
Trên thế giới đã xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn, sâu rộng hơn cả là cuộc khủng
hoảng kinh tế – tài chính nổ ra năm 1997. Vị thế các nước và các khu vực thay đổi
theo hướng: kinh tế Mỹ phát triển nhanh và ổn định liên tục trong nhiều năm và đến
2002 bắt đầu suy giảm; kinh t
ế Tây Âu hiện không còn phát triển nhanh như các thập
kỉ trước; kinh tế Nhật suy thoái chưa có lối ra; các nước thuộc Liên Xô trước đây và
nước Đông Âu rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài, vài năm gần đây tăng trưởng
tương đối khá; kinh tế Trung Quốc phát triển ngoạn mục; Đông Nam á và Đông á
phát triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước, tuy nhiên vừa qua
đã rơi và suy thoái và nay đang hồi phục; Nam Á và Châu Phi vẫ
n chưa thoát khỏi
nổi lên xu hướng liên kết kinh tế dẫn tới sự ra đời, rồi hợp nhất của nhiều tổ chức
kinh tế
và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực, như Tổ chức thương mại thế giới
(WTO), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh Châu âu
(EU), khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (AFTA)…
Hiện nay, các nước lớn, nhỏ đều giành ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi
chính sách kinh tế mở. Nay những nước có tiềm năng và thị trường lớn như Trung
Quốc, Nga, ấn Độ
, Mỹ…và cả một số nước vốn khép kín, theo mô hình tự cung tự
cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Mặt khác cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu mà
không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTphương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùi dịch bệnh hiểm
nghèo, chống tội phạm quốc tế…
Tuy nhiên trong xu thế đó, các nước công nghiệp phát triển, đứng đầu là Mỹ,
do có ưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học- công nghệ, có nền kinh tế
phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối thị trường thế giới, áp
đặt điều kiện với
những nước chậm phát triển hơn, thậm chí dùng nhiều biện pháp thô bạo như bao vây
cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ích của các nước đang phát triển và chậm phát
triển. Trước tình hình đó các nước đang phát triển đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu
tranh chống chính sách tăng cường quyền áp đặt của Mỹ để bả
o vệ lợi ích của mình
vì một trật tự kinh tế bình đẳng, công bằng.
ở khu vực Đông Nam áđã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc. Mặc dù trải qua
cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính trầm trọng trong thời gian 1997 -1998, song vẫn
là khu vực có nhiều tiềm năng do vị trí địa lý chính trị và địa lý kinh tế của mình,
Lan, Malayxia, Singapo đã chuyển mạnh sang kinh tế hướng về xuất khẩu và thu
được những thành quả tố
t.
Xét về việc mở rộng và đa dạng các mối liên kết thương mại thì chính sách tỷ
giá, chính sách giảm thuế xuất nhập khẩu, bãi bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan
đã làm cho hoạt động thương mại tại các nước mở rộng thị trường và tăng khối lượng
hàng hoá xuất nhập khẩu.
Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế,điều chúng ta thấy rõ là thị trường
vốn có mố
i liên kết chặt chẽ hơn nhiều. Các nước đang phát triển có cơ hội hội nhập
với thị trường tài chính toàn cầu. Nhờ vậy mà loại bỏ việc kiểm soát đối với đồng
vốn chảy vào, đồng thời cũng bãi bỏ dần những hạn chế trong thanh toán và giao dịch
thông qua tài khoản. Hiện nay, nhiều nước đã chấp nhận thả nổi đồng tiền, đã làm
cho
đồng vốn đổ vào các nước này tăng nhanh.
Mặt khác, hội nhập kinh tế trong thời gian qua có tác động tích cực đến việc ổn
định kinh tế vĩ mô. Nhiều quốc gia đang phát triển đã mở cửa thị trường thu hút vốn,
một mặt thúc đẩy công nghiệp hoá, một mặt tăng tích luỹ từ đó cải thiện mức thâm
hụt ngân sách. Chính sự ổn định kinh tế vĩ mô này đã tạo ni
ềm tin cho các chương
trình phát triển hỗ trợ cho những quốc gia thành công trong cải cách kinh tế và mở
cửa.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTNgoài ra, hội nhập kinh tế tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và nâng cao mức
thu nhập tương đối của các tầng lớp dân cư.
Chính những mặt thuận lợi này mà hội nhập kinh tế quốc tế có sức mạnh to
lớn. Nó kéo tất cả các quốc gia dù lớn, dù nhỏ, dù giàu hay nghèo đều bị cuốn vào.
Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là chủ nghĩa tư bản hiện đại v
niên 60, các nước đang phát triển đạt mức tăng trưởng 5,7%, thập niên 70 đạt 5,3%
thì đến thập niên 80 là 2% và những năm vừa qua của thập niên 90 tuy tình hình có
được cải thiện, song cũng chỉ đạt mức trên 4% trong khi tỉ lệ tăng dân số vẫn còn ở
mức trên 2%/năm.
Không những thế vấn đề nợ nước ngoài c
ũng trở thành gánh nặng đối với các
nước đang phát triển. Số liệu thống kê của Liên hợp quốc cho thấy, nợ nước ngoài
của các nước này đã tăng hơn 300 lần trong 4 thập niên qua : từ 6 tỉ năm 1995 lên
trên 2000 tỉ đầu năm 2000. Trong đó, có những nước mà tổng số nợ đã vượt xa so với
tổng thu nhập quốc dân. Những bi kịch về nợ nước ngoài của các nướ
c đang phát
triển không chỉ được biểu hiện ở tổng số nợ khổng lồ mà còn là tình trạng nhiều nước
không có khả năng thanh toán dù chỉ là lãi suất hằng năm, trong khi dó tốc độ của các
khoản vay vẫn gia tăng và không hề có dấu hiệu giảm bớt.
Cùng với nợ nần là tình trạng bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch – thương
mại giữa các nước đang phát triển và phát triể
n. Chỉ tính riêng qua trao đổi không
ngang giá, các nước phát triển mỗi năm thu về món lợi hàng chục tỉ USD.
Mặt khác, vẫn tiếp tục diễn ra sự phân biệt đối xử với hàng hóa – sản phẩm của
các nước đang phát triển khi thâm nhập thị trường các nước phát triển. Qua con
đường đầu tư, chuyển giao kỹ thuật – công nghệ, các cường quốc tư bản không chỉ
thu lợi do bán các thiết bị công nghệ lạc h
ậu và gây ô nhiễm mà còn khống chế nhiều
huyết mạch kinh tế quan trọng của các nước đang phát triển. Còn các nước đang phát
triển, do áp lực bức bách của nhu cầu cải thiện đời sống kinh tế, đã dễ dàng chấp
nhận “chào đón” bất kỳ sự cải tiến kỹ thuật – công nghệ nào, bất kỳ nguồn vốn tư bản
nào. Sự đơn giản dễ dãi này, mặ
c dù trước mắt có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
song rất có thể phải trả giá đắt bởi các hậu quả kinh tế xã hội khó lường. Do vậy, lựa
chọn kỹ thuật – công nghệ, cơ cấu kinh tế, mô hình kinh tế – xã hội đang đặt ra
ển đất nước
không phải là một điều gì hoàn toàn mới đối với Đảng và Nhà nước ta. Nó là sự kế
thừa, phát triển và vận động sáng tạo vào hoàn cảnh hiện nay của đất nước, những
luận điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà vừa mới ra đời sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong bài trả lời
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTphỏng vấn của các nhà báo ngày 23 tháng 10 năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác
những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác…Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên
môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong công
cuộc kiến thiết quốc gia” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, T4, NXB Chính trị quốc gia, HN
1995, tr74)
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ giữa những năm 70 của thế k
ỷ trước,
nước ta đã gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), tích cực tham gia Phong trào
không liên kết, Liên hợp quốc mà một trong những nội dung cơ bản là đấu tranh cho
một trật tự kinh tế thế giới công bằng. Bên cạnh mối quan hệ với các nước trong cộng
đồng XHCN, nước ta đã ra sức thúc đẩy quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi với
các nước tư bản chủ nghĩa mặ
c dầu lúc đó các thế lực thù địch thực hiện chính sách
bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị đối với nước ta.
Trong thời kì đổi mới, chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh
tế quốc tế càng được thể hiện rõ nét và được thực hiện tích cực hơn. Đại hội lần thứ
VI của Đảng họp tháng 12 – 1986 đã chính thức khởi x
ướng công cuộc đổi mới nhằm
đưa nước tar a khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế – xã hội. Việc triển khai Nghị
Quyết Đại hội lại diễn ra trong bối cảnh tình hình Liên Xô, Đông Âu xấu đi nhanh
chóng và tới đầu những năm 90 thì chế độ XHCN đã bị xoá bỏ tại các nước này, Liên
mở rộng quan hệ với tất cả các nước.
Đại hội lần thứ VIII họp tháng 6/1996 đã khẳng định chủ trương “xây dựng
một nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hộ
i nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Hội
nghị Trung ương 4 khoá VIII nêu nhiệm vụ “tích cực chủ động thâm nhập và mở
rộng thị trường quốc tế”, “tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định
thương mại với Mỹ”, “gia nhập APEC và WTO, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực
hiện cam kết trong khuôn khổ AFTA”.
4. Nhận
định về những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trên con
đường hội nhập kinh tế quốc tế.
4.1. Những cơ hội mà Việt Nam có được khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình “mở cửa” nền kinh tế, đưa các doanh
nghiệp trong nước tham gia tích cực vào cạnh tranh, quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTtế chúng ta có cơ hội tích luỹ được những tiền đề, những điều kiện cho một trình độ
phát triển mới. Trước hết chúng ta có cơ hội thu hút vốn, khoa học, kỹ thuật công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh tế từ bên ngoài và mở rộng thị trường để
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước ra khỏi tình trạng
kém phát triển. Tiếp đó hộ
i nhập kinh tế tạo khả năng mở rộng thị trường ra nước
ngoài trên cơ sở các hiệp định thương mại đã ký kết với các nước, trong khu vực và
toàn cầu. Tạo cơ hội giao lưu các nguồn lực của nước ta với các nước, bởi chúng ta
có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng nếu không hội nhập thì việc sử dụng trong nước sẽ
bị lãng phí, kém hiệu quả. Thông qua h
ội nhập ta có thể xuất khẩu lao động qua hợp
đồng gia công hàng xuất khẩu. Đồng thời tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kỹ thuật
toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia phải mở toang cửa nền
kinh tế đất nước, phải thực hiện triệt để tự do hoá thị trường bên trong và bên ngoài,
phải thả nổi tiền tệ, phải tư nhân hoá, phải giảm mạnh vai trò kiểm soát của Nhà nước
theo hướng: “Nhà nước tối thiểu, thị trường tối đa”. Vì vậy các doanh nghiệp trong
nước phải chấp nhận tư cách thành viên cạnh tranh ngang b
ằng các nước khác. Mà xu
hướng tự do hoá thương mại quốc tế càng phát triển thì cạnh tranh quốc tế ngày càng
khốc liệt. Điểm đặc biệt là ta phải cạnh tranh ngay từ đầu, trên tất cả các mặt trận, với
những thế lực mạnh hơn nhiều về thực lực và trình độ. Tại diễn đàn Kỳ họp thứ 6,
Quốc hội khoá XI, Thủ tướng Phan Văn Khả
i cũng nhiều lần nhấn mạnh : “Sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế thua kém nhiều nước xung
quanh là điều bất lợi lớn nhất khi hội nhập kinh tế quốc tế” Hội nhập kinh tế quốc tế,
chúng ta đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đầu tư theo chiều sâu để
nền kinh tế đủ sức cạnh tranh trên th
ị trường quốc tế. Bên cạnh đó, chúng ta đứng
trước khó khăn rất lớn trong việc điều chỉnh hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách
làm sao vừa bảo đảm cho đổi mới thành công, nền kinh tế phát triển bền vững; vừa
phù hợp với cam kết quốc tế; lại có khả năng khắc phục những tiêu cực, rủi ro do hội
nhập đem lại. Nhìn chung, nế
u không vượt qua được những thách thức này, chúng ta
không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế. Mặt khác, toàn cầu hoá đang bị chủ
nghĩa tư bản chi phối trên các lĩnh vực : thị trường, khoa học – công nghệ và vốn.
Các nước tư bản đang mưu toan ding những lợi thế này để gây sức ép đối với chúng
ta. Thực tế này đe doạ tấn công vào chủ quyền quốc gia, là xói mòn các giá trị văn
hoá truyền thống của dân tộc, đe doạ sự ổn định về kinh tế và xã hội của đất nước.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTHơn bao giờ hết, chúng ta cần tỉnh táo trong từng bước hội nhập, cần phân tích tính
hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợ
p với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp
ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia; tranh thủ
những ưu đãi giành cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển
đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường.
Cuối cùng, cần kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu
giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng; thông qua hội nhập để tăng cường
sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTgiác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hoà bình”
với nước ta.
PHẦN 2
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. CÁC BƯỚC ĐI CỦA TA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
Năm 1993, chúng ta khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc
tế như IMF, WB, ADB. IMF, WB đã hỗ trợ cho ta thông qua Chương trình tín dụng
trung han; Chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAC) của WB và chương trình điều
chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF) của IMF. Nội dung đàm phán với các tổ chức này gắn
bó mật thi
ết với những yêu cầu của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong quan
hệ với các tổ chức này, chúng ta chỉ chấp nhận sự hỗ trợ tài chính nếu yêu cầu của họ
không trái với đường lối chính sách của ta; có năm điều kiện họ đưa ra vi phạm chủ
quyền và lợi ích của ta nên ta không nhận.
Ngày 25/7/1995, nước ta đã chính thức gia nhập ASEAN, đồng thời tham gia
khu vực m
ậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Từ ngày 1/1/1996, chúng ta bắt đầu thực
hiện nghĩa vụ và các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
của Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này. Theo các chuyên gia nước ngoài để
gia nhập WTO vào cuối năm nay tại Hộ
i nghị các Bộ trưởng WTO ở Hồng Kông
chúng ta phải cơ bản kết thúc đàm phán song phương và đa phương vào quãng tháng
6 – 7 trong đó có những đối tác rất lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản. Tuy nhiên,
việc này thực hiện còn gặp nhiều khó khăn bởi vẫn còn nhiều đối tác nước ngoài
muốn gây sức ép cho ta. Thế nên, đến giờ, thời hạn để ta gia nhập WTO vẫn là một
câu hỏi lớn.
II. CÁC KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐẠT ĐƯỢC CỦA NƯỚC TA TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP
Trước tình hình kinh tế thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ, xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế thế giới hiện
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTđại. Việt Nam không thể tránh khỏi tầm ảnh hưởng của xu thế tất yếu này và cũng
không muốn bị tụt lùi hơn nữa. Kết quả là sự thay đổi cơ chế, buộc Việt Nam phải bắt
nhịp với sự phát triển của thế giới. Một hệ thống chính trị đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa nhưng hoạt động kinh tế thị trường v
ới chính sách hợp lí, mềm dẻo, mở
cửa để hội nhập, các hoạt động đối ngoại mở rộng, đa phương, song phương từng
bước tham gia vào các diễn đàn kinh tế lớn, mở rộng quan hệ ngoại giao, từ đó thiết
lập các mối quan hệ hàng hoá thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
Nhờ đó mà chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất đị
nh mà trước hết là
chúng ta đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập, cấm vận của các thế lực thù địch,
tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước trên chính trường và thương trường thế giới.
đỉnh cao nhất vào năm 1999(44,06%) nhưng đã giảm 8 năm liền: năm 2003 chỉ còn
38%, năm 2004 đã tăng lên 38,15% - đã có dấu hiệu chặn đượ
c sút giảm tỉ trọng dịch
vụ trong GDP.
Bên cạnh đó, chúng ta từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả
nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, nhờ đó tạo được tư duy làm ăn mới, thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đổ
i mới công nghệ, đổi
mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh
tranh và phát triển, và thực tế sức cạnh tranh của họ cũng được nâng lên đáng kể. Một
tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất và kinh doanh làm thước đo,
một đội ngũ các doanh nghiệp năng động sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình
thành.
Hơn nữa chúng ta cũng đang từng bước tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng
quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh. Hội nhập
kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nước ta tiếp cận với những thành quả của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nhiều công ngh
ệ
hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến được sử dụng đã tạo nên bước phát triển mới
trong các ngành sản xuất. Cùng với đó thông qua các dự án liên doanh hợp tác với
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KTQD TIỂU LUẬN TRIẾTnước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản
lý sản xuất hiện đại.
Đồng thời, các lĩnh vực xã hội như giải quyết việc làm, nâng cao đời
sống của đông đảo quần chúng nhân dân, phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế,
thể dục thể thao, xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế – xã hội cho các vùng sâu, vùng xa,
dân tộc thiểu số