Tài liệu ĐỀ ÁN: “Đào tạo phát triển nguồn nhân lực việt nam trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế”, - Pdf 95

TRƯỜNG
KHOA ĐỀ ÁN Đào tạo phát triển nguồn nhân lực việt
nam trong tiến trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời
bước đầu đang tiếp cận dần đến nền kinh tế tri thức, do đó nến kinh tế đang
trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ.
Sự chuyển dịch kép từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công
nghiệp và nền kinh tế tri thức, đòi hỏi chung ta phải có một nguồn nhân lực
có đủ khả năng, đủ trình độ để đáp ứng những đòi hỏi khách quan của nó.
Nhận thức được tầm quan trọng cấp thiết của vấn đề đào tạo phát triển
nguồn nhân lực, Đảng va Nhà nước ta đã coi giáo dục-đào tạo là quốc sách
hàng đầu, đồng thời đã đưa ra rất nhiều chính sách về giáo dục- đào tạo nhằm

1. KHÁI NIỆM:
_Đào tạo nguồn nhân lực: là quá trình trang bị những kiến thức nhất
định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận
một nghề nào đó, hay để làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc để làm
những công việc khác trong tương lai.
_Phát triển nguồn nhân lực: là toàn bộ những hoạt động tác động vào
người lao động, để người lao động có đủ khả năng phục vụ cho nhu cầu về lao
động trong tương lai.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực có phạm vi hẹp hơn, nó chính là một
nội dung của phát triển nguồn nhân lực. Đào tạo chỉ mang tính chất ngắn hạn,
để khắc phục những sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng cho những công
việc hiện tại. Còn phát triển mang nghĩa rộng hơn, nó không chỉ bao gồm vấn
đề đào tạo mà còn rất nhiều những vấn đề khác, như chăm sóc y tế, tuyên
truyền sức khoẻ cộng đồng…nhằm phát triển nguồn nhân lực trên mọi
phương diện. Về mặt thời gian, phát triển nguồn nhân lực mang tính chất dài
hạn, lâu dài hơn trong nền kinh tế.
2. PHÂN LOẠI VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA ĐÀO TẠO:
Nội dung nói chung của đào tạo gồm ba nội dung chính là:

2
_Đào tạo mới: tức là đào tạo cho những người chưa có nghề, để họ có
được một nghề nào đó trong nền kinh tế.
_Đào tạo lại: là đào tạo cho những người đã có nghề, nhưng nghề đó
hiện không còn phù hợp nữa.
_Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là đào tạo cho những người đã
có nghề, để họ có thể làm những công viêc phức tạp hơn, có yêu cầu trình độ
cao hơn.
Về phân loại đào tạo, thường thì đào tạo được phân ra làm hai loại là
đào tạo công nhân kỹ thuật và đào tạo cán bộ chuyên môn.
1.1. ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT:

doanh nghiệp lớn để đáp ứng cho các doanh nghiệp cùng ngành có tổ chức
khá giống nhau.
_Đào tạo tại các trường chính quy: Nhà nước hoặc tư nhân tổ chức
các trường dậy nghề, trung tâm dậy nghề… để đào tạo một cách có hệ thống
những công nhân có trình độ lành nghề cao, cung cấp cho thị trường lao động.
Ưu điểm của phương pháp này là các học viên được đào tạo một cách
có hệ thống từ lý thuyết đến thực hành, giúp việc tiếp thu kiến thức được
nhanh chóng và dễ dàng hơn. Tạo thuận lợi cho học viên được tiếp cận những
vấn đề mới, chủ động trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh.
Nhược điểm của phương pháp này là thời gian đào tạo dài, chí phí đào
tạo lớn.
1.2 .ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHUYÊN MÔN:
Đào tạo cán bộ chuyên môn: là đào tạo trong các trường đại học, cao
đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, để người lao động có khả năng lãnh đạo,
quản lý, chỉ đạo một chuyên môn, nghiệp vụ nào đó.
Căn cứ vào trình độ đào tạo có thể phân ra làm các loại đào tạo sau:
_Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp: là đào tạo những lao động lành
nghề, biết cách sử dụng các công thức, biểu mẫu, quá trình hay các thao tác đã
được học ở nhà trường để vận hành trong thực tế.

4
_Đào tạo cao đẳng: là đào tạo cho học viên có trình độ gần như tương
đương với trình độ đại học, nhưng thiên về thực hành (như trung cấp chuyên
nghiệp) hơn.
_Đào tạo đại học: là đào tạo cho học viên có được năng lực nhận thức
quy luật nghiên cứu lý thuyết để có thể đưa ra những giải pháp vận dụng
trong thực tế.
_Đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ): là đào tạo ra những cán bộ
chuyên môn có khả năng độc lập nghiên cứu, phân tích được các quá trình, xu
hướng vận động của lý thuyết để bổ xung hoặc thay đổi lý thuyết cho thích

nghiệp), Khu vực II (công nghiệp, xây dựng cơ bản), Khu vực III (dịch vụ).
Với nền kinh tế nước ta, khu vực I là khu vực có lợ thế rất lớn, nhưng
khu vực II mới chính là khu vực tiềm năng, mang tính quyết định còn khu vực
III là khu vực mang tính chất cầu nối.
_Cơ cấu kinh tế lãnh thổ: là cơ cấu được hình thành bởi việc bố trí
sản xuất theo không gian địa lý.
Nước ta, cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ được chia thành tám vùng kinh tế
chính là: Đồng bằng sông hồng, Đông bắc, Tây bắc, Bắc trung bộ, Duyên hải
nam trung bộ, Tây nguyên, Đông nam bộ, Đồng bằng sông cửu long. Trong
đó có hai vùng kinh tế lớn là Đồng bằng sông hồng, với vùng kinh tế trọng
điểm Bắc bộ và Miền đông nam bộ với vùng kinh tế trong điểm phía nam.
_Cơ cấu kinh tế thành phần: là hệ thống tổ chức kinh tế với các chế
độ sở hữu khác nhau.
Nước ta hiện nay có sáu thành phần kinh tế là: Kinh tế nhà nước, Kinh
tế tập thể, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân, Kinh tế tư bản nhà
nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, thành phần kinh tế nhà
nước nắm vai trò chủ đạo, đảm trách những ngành kinh tế quan trọng của đất
nước, giữ vai trò cầm lái cho nền kinh tế. 6
III. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ.
1. SỰ CHUYỂN DỊCH KHÁCH QUAN CỦA CƠ CẤU LAO ĐỘNG:
Sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế sẽ làm thay đổi quy mô, tỷ trọng và
trình độ phát triển của các bộ phận cấu thành. Bộ phận kinh tế nào phát triển
nhanh hơn sẽ lôi kéo và đòi hỏi cao hơn các nguồn lực phục vụ cho sự phát
triển của nó.
Lực lượng sản xuất, mà trong đó con người là trọng tố cũng không nằm
ngoài quy luật này. Nó cũng sẽ đòi hỏi và thu hút nhiều lao động hơn, đòi hỏi

Tức là nhu cầu về cán bộ chuyên
môn để quản lý nền kinh tế là khá ít,
còn nhu cầu về công nhân kỹ thuật cho
nền sản xuất máy móc là rất lớn.
Còn khi nền kinh tế chuyển tiếp
từ nền kinh tế công nghiệp sang nền
kinh tế tri thức, lúc này trình độ khoa
học kỹ thuật phat triển ở mức cao, máy
móc thiết bị đã dần thay thế cho các
hoạt động sản xuất của con người, do
đó, nhu cầu về công nhân kỹ thuật đã
dần giảm xuống.
Mặt khác, thu nhập và mức sống của con người trong nền kinh tế tri
thức đã ở mức cao, vì vậy, những đòi hỏi của họ cung lớn và đa dạng hơn
trong nghỉ ngơi, giải trí, đòi hỏi các ngành công nghệ, dịch vụ phải được mở
rộng và phát triển hơn. Do đó, tất yếu sẽ làm tăng nhu cầu về lao động trí thức
có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao.
Lúc này, cơ cấu nhu cầu về lao
động sẽ không còn ở dạng “hình tháp
nhân lực công nghiệp truyền thống”
nữa, mà đã biến đổi sang kiểu “hình
tháp nhân lực tri thức”
Tức là, vẫn cần nhiều công nhân
kỹ thuật nhưng giảm hơn so với nền

8
kinh tế công nghiệp, đồng thời đòi hỏi
một lượng lớn lao động có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ cao.
Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cách phân chia của Martin Trow, một

thì tương ứng với nó trình độ đào tạo đại học cũng phải càng cao, mà cụ thể ở
đây là tỷ lệ sinh viên đại học phải càng cao.
Vậy để xác đình được phương hướng đào tạo nguồn nhân lực, trước hết
chúng ta phải xét xem nền kinh tế nước ta đang ở đâu và chuyển dịch như thế
nào.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với mục tiêu phấn
đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp khá phát triển, đã
đưa nền kinh tế nước ta chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên
nền kinh tế công nghiệp và hiện đang ở khoảng giữa của quá trình chuyển
dịch.
Mặt khác, tác động của quá trình toàn cầu hoá và xu hướng chuyển nền
kinh tế thế giới từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đã làm
phát triển một số ngành dịch vụ và công nghệ cao ở nước ta như ngân hàng,
tài chính, công nghệ thông tin Điều đó chứng tỏ nước ta cũng đang ở điểm
khởi đầu của quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức.
Như vậy, nền kinh tế của ta đang diễn ra quá trình chuyển dịch kép,
một mặt, vừa chuyển dịch lên nền kinh tế công nghiệp và đang ở khoảng giữa,
đồng thời, lại vừa chuyển dịch lên nền kinh tế tri thức và đang ở điểm khởi
đầu của sự chuyển dịch.
Chính đặc điểm này đã làm cho nền kinh tế có nhưng đòi hỏi cao hơn
và phức tạp hơn về nguồn nhân lực nhằm phục vụ cho sự phát triển và chuyển
dịch của nó.
Trước tiên và chung nhất nó đòi hỏi nguồn nhân lực phải có một mặt
bằng chung về trình độ cao hơn. Khác với trước kia trong nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung, chỉ đòi hỏi người lao động phải có đức tính tốt, cần cù,
trung thành, và có tinh thần trách nhiệm. Với ngày nay, nền kinh tế đòi hỏi

10
người lao động phải có tính sáng tạo, có khả năng xử lý vấn đề, có khả năng
phân tích, tinh thần đồng đội, rồi khả năng ăn nói, diễn đạt… Tức là phảI có

11
Mặt khác, sự chuyển dịch lên nền kinh tế tri thức lại đòi hỏi nguồn
nhân lực phải có một trình độ cao hơn nữa, trình độ đào tạo đại học phổ cập
và cơ cấu nhân lực theo mô hình “hình tháp nhân lực tri thức”.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta mới chỉ ở điểm khởi đầu của quá trình
chuyển dịch này, nên đòi hỏi trên về nguồn nhân lực mới chỉ nằm trong một
số ngành dịch vụ và công nghệ cao, thể hiện như trong biểu sau:
Biểu 2: Cơ cấu sử dụng lao động của một số ngành công nghệ cao và
dịch vụ (%).
Lĩnh vực hoạt động
LĐ phổ
thông
CNKT, sơ
cấp
Trung
cấp
CĐ, ĐH trở
lên
Công nghệ thông tin 0 28.22 20.4 51.38
Chuyển giao KH,
CN…
16.2 22.5 15.5 45.8
Viễn thông… 10.0 61.0 22.7 20.5
KD tài chính, ngân
hàng
8.5 28.1 21.4 42.0
HĐ của tổ chức QT 6.2 6.3 25 62.5

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM

I. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT:
1. VỀ QUY MÔ:
Sau nhiều năm suy giảm, quy mô đào tạo công nhân kỹ thuật những
năm gần đây đã được mở rộng và phát triển trở lại. Hiện nay, cả nước đã có
226 trường dậy nghề, trong đó 199 trường công lập và 27 trường ngoài công
lập, tăng 1.75 lần so với năm 1998.
Các hệ đào tạo ngắn hạn cũng phát triển mạnh với nhiều loại hình, tính
đến nay, cả nước đã có 320 trung tâm dậy nghề, 150 trung tâm dịch vụ việc
làm và trên 300 trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp.
Biểu 3: số lường trường đào tạo công nhân kỹ thuật.
Năm 1997 2000 2003
Số trường 129 159 218

Về chương trình giảng dậy, đã biên soạn và ban hành 50 chương trình
dậy nghề ngắn hạn, lưu động và đang triển khai biên soạn 76 chương trình
dậy nghề dài hạn.
Cùng với sự tăng lên của số lượng các cơ sở đào tạo, số lương học viên
cũng tăng lên rất nhanh trong thời gian qua. Năm học 2003 – 2004 đã có hơn
164000 học viên dài hạn và 949100 học viên ngắn hạn trong khi năm học
1997 – 1998 chỉ có 60000 học viên dài hạn.
Biểu 4: số lượng học viên đang học trong các trường đào tạo nghề.
Năm học 1997-1998 1999-2000 2000-2001 2002-2003 2003-2004
Học viên 60000 100000 126000 146000 164000 14
Tuy nhiên quy mô đào tạo nghề hiện nay vẫn còn chưa đáp ứng đủ nhu

Được sự quan tâm, chú trọng của đảng, nhà nước và của toàn xã hội,
những năm gần đây quy mô và chất lượng của đào tạo cán bộ chuyên môn của
nước ta đã tăng lên đáng kể.
1. VỀ QUY MÔ:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sỏ hạ tầng quốc gia,
số lượng các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp cũng đã tăng
lên nhanh chóng. Hiện nay, cả nước có 87 trường đại học, 127 trường cao
đẳng, 245 trường trung cấp chuyên nghiệp. Số cơ sở sau đại học là 147, trong
đó 95 cơ sở được đào tạo tiến sĩ. Các quan hệ hợp tác đào tạo với các nước ,
các tổ chức quốc tế cũng không ngừng tăng lên…
Ngoài ra, các hình thức đào tạo cũng phát triển mạnh mẽ và đa dạng,
hình thức đào tạo không chính quy đã có tại hầu hết các địa phương trên cả
nước, thu hút được nhiều học viên tham gia học tập. Năm học 2003 – 2004,
chúng ta đã có 57 trung tâm giáo dục từ xa cấp tỉnh, 494 trung tâm giáo dục từ
xa cấp quận huyện và rất nhiều các trung tâm tin học ngoại ngữ đã được mở
ra phục vụ nhu cầu học tập của xã hội. đặc biệt là đã có 11 trường đại học
thực hiện hình thức giáo dục từ xa và đã thu hút được rất nhiều học viên tham
gia.
Về cơ sở trang thiết bị trang thiết bị cũng đã được cải thiện, các trường
đã cố gắng nâng cấp thư viện, phòng thí nghiệm, các cơ sở thực hành, mua
sắm các trang thiết bị hiện đại và nối mạng internet… Tuy vậy, xét mặt bằng
chung, cơ sở trang thiết bị của ta vẫn còn thiếu then và lạc hậu chưa đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của việc nghiên cứu, học tập và giảng dậy.
Đội ngũ giảng viên đã tăng, song vẫn còn thiếu ở hầu hết các trường.
Đặc biệt là trong hệ cao đẳng và đại học, có khoảng 40000 giảng viên, trong
khi đó số lượng sinh viên là trên 1 triệu, tỷ lệ sinh viên trên một giảng viên
bình quân là 25,8. Với vai trò quan trọng hiện nay, đào tạo cũng đã thu hút
được nhiều học sinh tham gia thi tuyển vào nghề, tỷ lệ tuyển mới hàng năm là
lớn nhất, khoảng 24,7%, tiếp sau đó là khối kinh tế với 20% và khối khoa học


2000-2001 74 104 253 24362 7843 10189

17
2001-2002 77 114 252 25546 10392 9327
2002-2003 81 121 245 27393 11215 10247

2. VỀ CHẤT LƯỢNG:
Với việc coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, hàng năm vốn đầu
tư cho giáo dục đào tạo luôn được ưu tiên và tăng nhanh từ trung ương đến
địa phương, từ khu vực nhà nước đến khu vực tư nhân. Năm 2004, chi ngân
sách cho giáo dục đào tạo tăng 2,7 lần so năm 1998. Tỷ trọng chi cho đầu tư
giáo dục trong tổng chi ngân sách năm 1998 là 3,2%, đến năm 2004 là 4,6%.
Đồng thời, các chính sách hỗ trợ ưu tiên, đổi mới, cải cách giáo dục đào
tạo đã làm cho chất lượng giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo cán bộ
chuyên môn nói riêng được nâng lên đáng kể.
Hiệu quả quản lý, đánh giá, thanh kiểm tra đào tạo đã tốt hơn, hệ thống
cơ sở trang thiết bị phục vụ học tập, giảng dậy đã được cải thiện. Đặc biệt là
trình độ của đội ngũ giảng viên được nâng cao đáng kể, số lượng giảng viên
cao đẳng, đại học có học vị, học hàm cao tăng nhanh.
Biểu 6: trình độ cán bộ giảng dậy cao đẳng, đại học.
Trong đó Chia ra
Năm học Tổng
GS p.GS TS ThS CĐ,ĐH Khác
2000-2001 32205 314 1140 4563 8664 18505 473
2001-2002 35938 306 1171 4970 10161 20348 459
2002-2003 38608 324 1330 5476 11232 21239 661

Trong đó, số giảng viên được đánh giá có chuyên môn tốt chiếm 71%
số tiến sĩ, 83% số thạc sĩ, 57% số cán bộ có trình độ đại học và 4% số cán bộ
có trình độ cao đẳng. Về tinh thần trách nhiệm thì có 75% số tiến sĩ, 75% số

sách hàng đầu”. Quan điểm này luôn được khẳng định và nhấn mạnh trong
các văn kiện của đảng tại các kỳ đại hội VII, VIII và IX. Điều này cho thấy sự
nhất quán trong việc khẳng định vai trò của giáo dục, đào tạo, coi giáo dục,

19
đào tạo là quốc sách hàng đầu , là nhân tố quyết đinh tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục, đào tạo chính là đầu tư cho sự phát
triển.
Chính quan điểm đúng đắn về giáo dục đào tạo này đã làm cho nền
giáo dục, đào tạo nước ta không ngừng phát triển, tạo ra một nguồn nhân lực
có trình độ phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong thời
gian qua.
Cụ thể hoá quan điểm trên, trong thời gian qua, nước ta đã liên tục xây
dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách giáo dục đào tạo theo hướng ưu tiên và
tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục đào tạo phát triển. Các chính tập trung
vào những vấn đề như chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo
công bằng trong giáo dục đào tạo, đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng,
cải cách hành chính quản lý…
Đặc biệt, luật giáo dục được ban hành vào cuối năm 1998, đã đánh dấu
một mốc quan trọng trong việc xây dựng môi trường pháp lý và đổi mới cơ
chế quản lý trong hoạt động giáo dục đào tạo ở nước ta. Theo đó, các chức
năng quản lý đã được phân rõ, công cụ quản lý cũng được xây dựng và hoàn
thiện trên cơ sở của pháp luật. Công tác thanh tra, kiểm tra cũng được chú
trọng, những điều này đã đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả đào
tạo nguồn nhân lực.
Chính sự quan tâm đúng đắn của đảng, nhà nước và toàn xã hội, đã làm
cho quy mô và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nước ta không ngừng tăng
lên. Điều này thể hiện trong sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta trong
thời gian qua.
Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ 0.456, xếp thứ 121, lên

Quy mô đào tạo của ta còn nhỏ bé chủ yếu là do nền kinh tế nước ta
xuất phát điểm thấp, nên khả năng đầu tư cho đào tạo còn nhiều hạn chế. Việc
huy động và khuyến khích đầu tư còn kém hiệu quả, đặc biệt là từ khu vực tư

21
nhân. việc sử dụng vốn đầu tư cũng chưa hiệu quả, chủ yếu là kiểu đầu tư
giàn trải, bình quân.
Cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, do quan niệm xã hội coi thường công nhân
kỹ thuật, chưa có điều kiện đầu tư mở rộng quy mô đào tạo ở nông thôn, các
vùng sâu vùng xa…
Chất lượng đào tạo còn hạn chế là do:
Hệ thống chính sách, các mô hình đào tạo vẫn chưa thực sự tạo được
khâu đột phá trong việc giải quyết mâu thuẫn trong đào tạo hiện nay giữa quy
mô và chât lượng. Việc tổ chức thực hiện chính sách vẫn còn nhiều bất cập,
công tác thanh kiểm tra trong đào tạo vẫn chưa thực sự sát sao…
Hệ thống quản lý vẫn chưa thực sự hiệu quả, việc tổ chức còn ôm đồm,
chồng chéo giữa các cấp , các chương trình. Các chính sách quản lý vẫn còn
chưa ổn định, nhất quán, đặc biệt là trong đào tạo công nhân kỹ thuật, trong
vòng 35 năm, công tác dậy nghề đã thay đổi năm lần tổ chức, cơ quan quản lý
nhà nước. Giai đoạn 1969 – 1978 là Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật
thuộc bộ lao động. Giai đoạn 1978 – 1987 là Tổng cục dậy nghề trực thuộc
chính phủ. Giai đoạn 1987 – 1990 là Vụ dậy nghề thuộc bộ đại học, trung cấp
chuyên nghiệp và dậy nghề. Giai đoạn 1990 – 1998 là Vụ trung học chuyên
nghiệp và dậy nghề thuộc bộ giáo dục đào tạo. Giai đoạn từ 1998 đến nay là
Tổng cục dậy nghề thuộc bộ lao động thương binh và xã hội.
Các yếu tố của đào tạo vẫn còn hạn chế, số lượng trường lớp, cơ sở đào
tạo còn thiếu, trang thiết bị phục vụ cho học tập, nghiên cứu giảng dậy vẫn
còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Số lượng giáo viên còn thiếu rất
lớn, chất lượng một số giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu mới của đào
tạo…

Tổ chức nghiên cứu mô hình đào tạo mới phù hợp để khắc phục mâu
thuẫn đào tạo giữa chất lượng và số lượng hiện nay.
II. CÁC GIẢI PHÁP VI MÔ:
Với các trường đào tạo phải không ngừng mở rộng quy mô, đầu tư
nâng cao cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu đào tạo. nâng cao năng lực quản lý
tạo hiệu quả cho đào tạo. Cần nắm bắt các thông tin bên ngoài để xây dựng kế
hoạch đào tạo hợp lý, sát với thực tế của thị trường lao động, bằng các phối
hợp với các doanh nghiệp, các bộ ngành để xây dựng kế hoạch đào tạo cho
trường mình. Tổ chức các chương trình nâng cao trình độ giảng dậy cho giáo
viên.
Với giáo viên, cần phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, đổi
mới phương pháp giảng dậy, nâng cao trình độ.
Với học viên, cần phải tự ý thức, đồng thời với sự phối hợp giữa gia
đình, nhà trường và xã hội, giúp học viên ý thức được tầm quan trọng của

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status