Chuyên đề: Làng xã Việt Nam
Đề bài: Từ thực tế quê hương mình, làng mình anh (chị) hãy
nhận xét về sự biến đổi xưa làng Việt cổ trong thời điểm
hiện nay. Bài làm
Làng là một cộng đồng dân cư của người Việt đã có lịch sử mấy thiên
niên kỉ, trải qua quá trình phát triển liên tục, vừa cải tạo tự nhiên vừa chống
1
ngoại xâm và đô hộ của nước ngoài, vừa vươn lên hạn chế những rủi ro thiên
nhiên đem đến, làng Việt Nam vẫn trường tồn cùng lịch sử dân tộc.
Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, nước ta mất về tay giặc nhưng
làng thì không mất, làng vẫn được giữ vững, phục hồi trên khắp đồng bằng
sông Hồng rồi tái sinh lại trên đất đai miền Trung và đồng bằng sông Cửu
Long.
Làng Việt Nam có sức mạnh dẻo dai, bền vững đó là nhờ văn hóa làng,
văn hóa làng vẫn tồn tại đến ngày nay với sự ngưng kết đậm đà biểu hiện ở
phong tục tập quan, kho tàng văn hóa dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo. Văn hóa
làng còn có một cơ sở vật chất là đình, chùa, miếu, lũy tre, giếng nước, cây
đa… đã tạo nên một tổng thể văn hóa làng vững chắc, hòa quyện vào nhau.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là trong thời kì hội
nhập, làng quê Việt Nam đang có những biến đổi to lớn, hầu như không còn
một làng quê nào còn giữ nguyên hiện trạng như trước năm 1945. Đặc biệt là
sự biến đổi kết cấu cơ sở vật chất của làng.
1.Sự biến đổi văn hoá vật chất
Xưa… nhắc đến nông thôn-làng quê Việt người ta thường nghĩ đến cây
đa, bến nước, sân đình, đến lũy tre rủ mát trên con đường làng đến những
ngôi nhà giản dị thoáng mát với hàng rào râm bụt… và ở đó người ta có thể
tìm thấy một cuộc sống thanh bình.
Nay… cái không khí ấy đang dần mất đi để thay vào đó là những dãy
hội tụ của thánh thần.
Cây đa. Cây đa trong làng Việt mang nhiều ý nghĩa sâu xa.
Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo
dai. Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người đã có nhiều
thành tựu ở một lĩnh vực nào đó thường được đồng nghiệp và xã hội coi là
"cây đa, cây đề", biểu tượng cho sức làm việc quên mình, dẻo dai, cho sự tích
luỹ kiến thức phong phú.
Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy, cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân
3
chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất
trời, đôi khi là cả một vòng đời người.
Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ
Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ
thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích. Cuộc sống
sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa. Với người dân quê,
gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ.
Không tiền ngồi gốc cây đa
Có tiền thì hãy lân la vào hàng
Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi
dân gian. Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động
mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng. Gốc đa còn là nơi hẹn hò của
trai gái:
Em đang dệt vải quay tơ
Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà
Hẹn giờ ra gốc cây đa
Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao.
Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người.
là chùa của quý tộc, đến đời Lê chùa là của làng xã.
Chùa là nơi tu hành của các nhà sư, nơi thờ Phật, gửi hậu của dân làng,
là nơi đi lại tĩnh tâm vào ngày sóc, ngày vọng của nữ giới và người già.
Nếu so sánh kiến trúc đình thì nhìn chung chùa có vẻ khiêm tốn hơn
với vẻ trầm lắng u tịch và đơn sơ, giản dị của chùa.
Miếu làng…
Bên cạnh đình, chùa trong làng quê Việt còn có miếu. Miếu có kiến trúc
nhỏ hẹp, thường thường là của cộng đồng xóm ngỏ. Vị thần được thờ cũng
thường là thổ công, thổ địa hoặc các vị tổ sư nghề. Có nơi còn có quán thờ
các thần tượng như Liễu Hạnh hay Đức Thánh Trần…
Thời hiện đại
Về mặt cấu trúc, làng ngày nay đã thưa dần hình ảnh của lũy tre làng,
cổng làng, giếng nước làng. Đình làng không còn đóng vai trò quan trọng như
trước đây, nó chỉ còn thuần túy là nơi để thờ cúng hay giao lưu, gặp gỡ trong
những ngày lễ hội.
5
Ngày nay đình, chùa, miếu đang ngày càng ít đi và mất dần vẻ nguyên
sơ thửa ban đầu, người ta đang “trùng tu” đình, chùa, miếu bằng các vật liệu
mới như bê tông, đá mới…, thay thế những bức vẽ, bức phù điêu, những con
rồng phượng được chạm trổ tinh vi…
Sự thay đổi nhanh chóng của cấu trúc làng xã đã đến mức báo động.
Sau đây là một ví dụ chứng minh sự biến đổi to lớn đó.
Đình làng Động Gián ở huyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh ngày xưa là một
ngôi đình lớn. Theo ông Nguyễn Quỳnh Thông trong bài “Làng Động Gián”
in trong cuốn “Làng cổ Hà Tĩnh” (Sở văn hoá - thông tin hội văn học nghệ
thuật Hà Tĩnh) viết về đình làng Động Gián, xưa Đình làng toạ lạc trên nên
đất phía Tây cụm dân cư, ngoài mặt về phía Tây tức là trông về Ngàn Hống.
Vườn đình cao khoảng 1m được cư xung quanh bằng những tảng đá to. Vào
sân đình phải trèo 4-5 bậc đá. Sân rộng khoảng 700-800m , cây lớn bao
quanh, cành lá um tùm mát rượi. Vào vườn đình qua 3 cửa: cửa chính phía
2.1. Tín ngưỡng Thành hoàng làng
Cúng đình và lễ hội đình là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian
tiêu biểu của làng xã vùng đồng bằng sông Hồng. Nó thể hiện một niềm tin về
sự hiện diện của các vị thần họ mệnh cho cộng đồng, về sự phù hộ của họ
trong các hoạt động của con người.
Cho đến nay, cúng đình và lễ hội đình vẫn là sinh hoạt tôn giáo tín
ngưỡng quan trọng nhất ở các cộng đồng nông thôn ở vùng đồng bằng sông
Hồng. Mặc dù hội làng ở đồng bằng sông Hồng bị đứt đoạn khá nhiều năm,
có nơi lại thiếu vắng trung tâm sinh hoạt là ngôi đình, thế nhưng trong tâm
thức của dân làng thiết chế đình vẫn còn. Hội làng, ngôi đình vẫn là nhu cầu
của cả làng, dẫu rằng trung tâm của hội tạm thời chỉ là một ngôi đình còn
trong tình trạng hoang phế.
2.2. Thiết chế chùa đền miếu
Sinh hoạt tôn giáo tại chùa, đền, miếu đã trở lại phát triển trong thời kì
đổi mới, phản ánh các nhu cầu về tâm linh của người dân ở nông thôn là rất
lớn. Do tác động của cơ chế thị trường, nhóm xã hội làm nghề thương nhân ở
nông thôn mà sinh hoạt tín ngưỡng ở chùa, đình, miếu có chiều hướng gia
tăng hơn. Tầng lớp thương nhân do những yêu cầu của nghề nghiệp nên
thường hay cầu cúng tại nơi thờ các vị thần, vị thánh phù hộ cho việc buôn
bán. Đền Bà chúa Kho ở Nam Định là một ví dụ tiêu biểu, tín ngưỡng thờ
mẫu phát triển trong những năm gần đây cũng nằm trong quy luật này.
3. sự biến đổi văn hoá xã hội
3.1. Năng lực tự quản
Thời trung và cận đại
Tính tự quản làng xã là sự tự điều chỉnh – điều khiển của làng xã trong
quá trình vận động của kinh tế - xã hội. Tự điều khiển tự điều khiển là ít chịu
7
sự can thiệp của các cấp chính quyền bên trên, là sự vận hành đa tuyến của xã
hội dân sự.
Tính tự quản cảu làng xã Việt Nam có từ lâu đời với các bản hương ước
Cho đến ngày nay tính cộn đồng vẫn còn sâu đậm trong đờ sống tâm
linh cũng như trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện trong sự trường tồn của hội
làng, tâm thức hướng về ông Tổ của làng(Thành hoàng) cái tinh thần tình làng
nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau vẫn là một giá trị có tác động mạnh đến mọi
thành viên trong cộng đồng, dù rằng cái tinh thần áy đã dần bị bắn phá bởi tác
động của các quan hệ hàng-tiền trong xã hội thị trường.
8
Ở Đồng bằng sông Hồng trong những năm gần đây, một xu hướng thể
hiện khá rõ tinh thần cố kết cộng đồng là sự phục hồi các tổ chức xã hội
truyền thống như ban tế tự của gia đình, hội vãi già của chùa, hội đồng niên
được tổ chức theo lớp tuổi, thường là cho nam.
Các tổ chức xã hội này đã tạo nên các mối liên hệ cộng đồng theo
những tổ chứ khác nhau, cái vì mục tiêu tế tự, thoã mãn nhu cầu cộng cảm,
hợp tác tương trợ lẫn nhau theo nhóm tuổi để trình làng khi lên lão vv…
3.3. Gia đình, dòng họ
Ở Việt Nam gia đình và dòng họ có thể coi như một sự thu hẹp của
quan hệ xã hội, gia đình là cộng đồng nhỏ, dòng họ là cộng đồng lớn hơn, bao
gồm nhiều cộng đồng nhỏ cùng chung trong một hệ thống.
Về quy mô, trước Cách mạng tháng Tám ở nông thôn có hai loại gia
đình: gia đình của những người lao động và gia đình của tầng lớp thượng lưu.
Kết cấu của hai loại gia đình này không đồng nhất với nhau. Ở tầng lớp
thượng lưu thường là gia đình lớn hơn, đại gia đình, còn ở tầng lớp lao động
thì thường duy trì gia đình không lớn lắm.
Còn ngày nay kết cấu phổ biến trong gia đình người Việt là gia đình nhỏ.
Theo khảo sát của Uỷ ban kế hoạch nhà nước và Tổng cục thông kê năm
1992-1993 cho biết về nhân khẩu bình quân mỗi hộ có 4,9 người.
Về chức năng, theo các nhà nghiên cứu chức năng của gia đình nói
chung có thể phân làm hai loại: chức năng vốn có và chức năng mang tính xã
hội lịch sử.
Chức năng vốn có như tình yêu, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng con
tiên đã góp phần củng cố quan hệ gia đình, dòng họ.
Nuôi dưỡng người già
Dân gian ta có câu “trẻ cậy cha, già cậy con” đã nói lên chức năng của
gia đình người Việt là nuôi dưỡng người già.
Chức năng nuôi dưỡng người già không chỉ thể hiện tình cảm của con
cháu mà nó đã được quy định bỡi luật pháp. Pháp luật thời Lê, Ngyễn đều có
điều lệ con cháu phải có trách nhiệm nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà già. Trong
Quốc triều hình luật điều 506 ghi: “các con cháu không nghe lời dạy bảo và
không phụng dưỡng, mà bị ông bà đi thưa thì phải tội đồ làm khao đinh, con
nuôi, con kế tự mà thất hiếu với cha nuôi cha kế thì phải tội kém trên một bậc
và mất những tài sản đã được chia cho”.
Nuôi dưỡng cha mẹ già là nội dung của đạo hiếu, đây là nguyên tác ứng
xử cao nhất trong gia đình người Việt đã có từ xa xưa, được Nho giáo bổ sung
them tạo nên gốc của nhân luân, là tiêu chuẩn đạo đức con người.
Ngày nay chức năng nuôi dưỡng người già trong gia đình nhìn chung
vẫn được duy trì. Tuy nhiên đây đó đã có hiện tượng hắt hủi, đùn đẩy người
già ra khỏi gia đình, đâu đó vẫn có những người già cô đơn, con cái hắt hủi
không nơi nương tựa…
Đây là những việc làm trái ngược với truyền thong đạo hiếu của dân tộc
cần lên án mạnh mẽ.
Gia đình là bộ phận của dòng họ, có quan hệ mật thiết với nhau. Hầu
hết các thành viên mỗi khi gặp tang ma, cưới hỏi, cúng tế Tổ tiên… đều được
họ hàng quan âm giúp đỡ. Thể chế dòng họ quy định quan hệ giữa người với
người là trách nhiệm, nghĩa vụ không thắc mắc, không ghen tỵ, nhân dân ta
thường nói “lọt ràng xuống nia”, “chị ngã em nâng” là phản ánh mối quan
hệ trên.
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay hiện tượng bất hoà trong dòng họ,
trong anh em đã xẩy ra ở nhều gia đình, dòng họ.
10
Kết luận