Tài liệu Chương 2-quá trình đấu tranh giành chính quyền(1930-1945) - Pdf 96

Download tài liệu này tại :

1
Chương II

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945) I. PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930-1935:
1. Hội nghò Ban Chấp Hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ nhất (10/1930) - Luận
cương chính trò của Đảng:
Hội nghò Ban Chấp Hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ nhất họp tại Hương
Cảng vào tháng 10 năm 1930 do đồng chí Trần Phú chủ trì. Thực hiện chỉ thò của Quốc Tế
cộng sản, hội nghò quyết đònh: Đổi tên Đảng thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Hội nghò
cử ra Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư, Hội nghò thảo luận
Luận cương chính trò tháng 10 năm 1930 do đồng chí Trần Phú khởi thảo và thông qua điều
lệ Đảng, điều lệ các tổ chức quần chúng.
Nội dung chủ yếu của Luận cương tháng 10 năm 1930:
Luận cương xác đònh mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt ở Đông Dương,
“Giữa một bên thì thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì đòa chủ, phong
kiến, tư bản và đế quốc chủ nghóa”.
Tính chất của cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền có
tính chất đòi ruộng đất và chống đế quốc, sau khi làm cách mạng tư sản dân quyền thành
công sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội .
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải tranh đấu để đánh đổ
phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất, đánh đổ đế quốc Pháp làm cho Đông Dương
độc lập. Hai nhiệm vụ đó gắn bó chặt chẽ với nhau, cách mạng ruộng đất là cốt lõi của
cách mạng tư sản dân quyền, là cơ sở để Đảng lãnh đạo dân cày.
Giai cấp vô sản và nông dân là động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền,
trong đó là giai cấp lãnh đạo.Luận cương cho rằng “Tư bản thương mại, tư bản công nghệ
khi phong trào quần chúng nổi lên cao thì bọn này sẽ theo đế quốc”và tiểu tư sản không

“cốt lõi của cách mạng tư sản dân quyền” là “cơ sở để Đảng lãnh đạo dân cày”. Do không
thấy được nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc, nên luận cương tháng 10/1930 đã tập hợp
lực lượng cách mạng không đầy đủ, chỉ thấy vai trò của công nông mà không thấy vai trò
của các tầng lớp khác, đánh giá sai thái độ chính trò của giai cấp tiểu tư sản, cường điệu
hóa mặt tiêu cực của giai cấp tư sản, không thấy được mặt tích cực và yêu nước của tư sản
dân tộc; không nhận ra khả năng tranh thủ, lôi kéo những người yêu nước trong hàng ngũ
đòa chủ phong kiến cho công cuộc giải phóng dân tộc. Những hạn chế của luận cương cũng
là hạn chế của hội nghò Ban chấp hành trung ương tháng 10 năm1930, khi hội nghò này đã
thông qua một án nghò quyết phê phán những quan điểm đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc
trong Chính cương sách lược vắn tắt. Những hạn chế của luận cương đã được Đảng khắc
phục trong quá trình lãnh đạo cách mạng .
2. Phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1930-1935:
a) Cao trào cách mạng 1930-1931:
- Hoàn cảnh lòch sử:
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) trong hệ thống tư bản chủ nghóa đã
tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế của các nước tư bản. Để chống đỡ những khó khăn về
kinh tế ,giai cấp tư sản của các nước đế quốc đã trút gánh nặng khủng hoảng lên vai nhân
dân lao động trong nước và nhân dân lao động ở các nước thuộc đòa .
Ở Đông Dương, kinh tế vốn đã nghèo nàn và phụ thuộc, thời gian này càng suy sụp
hơn bởi khủng hoảng kinh tế của nước Pháp chính quốc, Chính quyền thực dân Pháp đã rút
vốn đầu tư về các ngân hàng Pháp và dùng tiền của Ngân Hàng Đông Dương tài trợ cho
các công ty của Pháp đang có nguy cơ phá sản. D
o đó, hàng loạt nhà máy xí nghiệp ở
Đông dương đã đóng cửa, phạm vi sản xuất bò thu hẹp, công nhân bò sa thải. Nông dân
cũng điêu đứng vì giá lúa hạ, họ không thể duy trì sản xuất Ruộng đất phải bỏ hoang. Các
tầng lớp khác như tiểu thương, tiểu chủ rơi vào cảnh khó khăn cùng cực. Đòa chủ nhỏ cũng
sa sút, một số tư sản dân tộc phá sản. Đã vậy, Thực dân Pháp đặt thêm các thứ thuế và các
thứ phụ thu làm đời sống của mọi tầng lớp nhân dân càng thêm kiệt quệ Mâu thuẫn giữa
Download tài liệu này tại :


Đặc biệt là ở Nghệ An - Hà Tónh, trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy
chính quyền của đế quốc và tay sai ở nhiều huyện đã bò tê liệt, tan rã. Các tổ chức Đảng ở
đòa phương đã chỉ đạo quần chúng tiến hành quản lý đời sống và trật tự xã hội, mặc nhiên
làm nhiệm vụ của một chính quyền nhân dân. Chính quyền Xô viết Nghệ Tónh đã tuyên bố
xóa bỏ chính quyền cũ và các luật lệ bất công của bọn thực dân phong kiến, ban bố quyền
tự do dân chủ cho nhân dân. Chính quyền đã chia la
ïi công điền, công thổ một cách công
bằng, thủ tiêu các thứ thuế vô lý, giải quyết nạn đói, củng cố đê điều, vận độâng nhân dân
hỗ trợ nhau tăng gia sản xuất. Về văn hóa xã hội, chính quyền tổ chức đời sống mới, mở
lớp dạy Quốc ngữ cho nhân dân, xóa bỏ các tệ nạn xã hội và các hủ tục mê tín dò đoan,
xây dựng tình thân ái đoàn kết đồng cam cộng khổ giúp đỡ nhau của người lao động. Xô
Viết Nghệ Tónh trở thành nguồn cỗ vũ mạnh mẽ cho lực lượng công nông trên cả nước.
Khắp nơi trong các cuộc đấu tranh ngoài các khẩu hiệu đòi tăng lương ,giảm giờ làm,
chống khủng bố đàn áp, còn xuất hiện các khẩu hiệu ủng hộ Xô Viết Nghệ Tónh.
Download tài liệu này tại :

4
Khi Xô Viết Nghệ Tónh ra đời cuộc đấu tranh của nhân dân ta và thực dân Pháp diễn
ra càng quyết liệt hơn. Thực dân Pháp điên cuồng đàn áp khủng bố nhân dân Nghệ An -
Hà Tónh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương nhân dân ta vẫn kiên quyết
đấu tranh bảo vệ và duy trì ảnh hưởng của chính quyền Xô Viết công nông đầu tiên của
dân tộc. Tuy vậy, khi phong trào phát triển đến đỉnh cao ở một số đòa phương đã xuất hiện
khuynh hướng “tả”, khuynh hướng này làm cho phong trào chỉ mang màu sắc công nông
mà chưa thể hiện được là phong trào của dân tộc. Đây cũng là một điều cần phải uốn nắn.
Ở nước ngoài Nguyễn Ái quốc theo dõi sát sao diễn tiến của phong trào cách mạng
1930-1931, Từ tháng 9-1930, Người đã gởi thư báo cáo cho Quốc Tế Cộng Sản yêu cầu
Quốc tế Cộng sản , Quốc tế Công hội, Quốc tế Nông dân hãy làm tất cả những gì có thể
làm được để giúp đở và ủng hộ phong trào cách mạng ở Đông Dương. Tháng 4-1931,
Nguyễn Ái Quốc viết thư gởi Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương,
nhấn mạnh phải xây dựng Đảng về chính trò tư tưởng và tổ chức. Người chỉ rõ những điểm

Download tài liệu này tại :

5
cơ sở và tổ chức của Đảng. Cuộc đấu tranh của đảng viên và quần chúng để giữ vững cơ sở
Đảng và phong trào cách mạng những năm 1932-1933 diễn ra bằng các hình thức tổ chức
thích hợp và đầy sáng tạo.
Đầu năm 1934, Ban chỉ huy ở hải ngoại của Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành
lập do đồng chí Lê Hồng Phong đứng đầu, hoạt động như một Ban chấp hành Trung ương
lâm thời, từ cuối năm 1934 đến đầu năm 1935 hệ thống tổ chức Đảng trong nước đã được
khôi phục, xứ ủy Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ lần lượt được lập lại.
3. Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng (3/1935 tại Ma Cao - Trung Quốc)
Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng (3/1935 tại Ma Cao - Trung Quốc) do Ban
chỉ huy ở hải ngoại của Đảng quyết đònh triệu tập. Dự đại hội có 13 đại biểu của các tổ
chức Đảng trong và ngoài nước. Đại hội bầu Ban Chấp hành trung ương mới do đồng chí
Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. Đại hội đã đánh dấu sự thắng lợi căn bản của cuộc đấu
tranh khôi phục hệ thống tổ chức Đảng từ cơ sở đến trung ương, từ trong nước ra nước
ngoài đồng thời đánh dấu sự thống nhất phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự
lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau 4 năm đấu tranh chống khủng bố trắng
vô cùng gian khổ để khôi phục phong trào cách mạng, Đảng ta không những đứng vững mà
còn được tôi luyện thử thách thêm. Đảng đã nhanh chóng trưởng thành, tích lũy được nhiều
kinh nghiệm đấu tranh quý báu, chuẩn bò đầy đủ những điều kiện cho phong trào cách
mạng mới.
II. CAO TRÀO DÂN CHỦ 1936-1939

1. Hoàn cảnh lòch sư
û:
Những năm đầu của thập kỷ 30,cuộc khủng hoàng kinh tế 1929-1933 đã kết thúc
nhưng hậu quả của nó vẫn còn tác động nặng nề trong hệ thống các nước tư bản. Mùa thu
năm 1937 cuộc khủng hoảng kinh tế mới lại nổ ra. Trong khi đó, Liên bang Xô Viết vẫn
trên đà phát triển, phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ nhiều

hiệu “Ủng hộ mặt trận nhân dân Pháp” và “Ủng hộ chính phủ nhân dân Pháp”, nhiệm vụ
cụ thể trước mắt là chống phát xít, chống chiến tranh và mục tiêu cụ thể trước mắt là: đòi
tự do, cơm áo, hòa bình. Mục tiêu đấu tranh đó không chỉ thống nhất với mục tiêu đấu
tranh của nhân dân thế giới mà còn đáp ứng nhu cầu nguyện vọng bức thiết của nhân dân.
Kẻ thù cụ thể trước mắt là: Bọn phản động thuộc đòa và tay sai.
Đảng chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương dưới sự lãnh đạo của
Đảng, lấy liên minh công nông làm nồng cốt, tập hợp mọi lực lượng không phân biệt dân
tộc, tôn giáo, đảng phái nhằm mục đích chống phát xít.
Hình thức tổ chức để tập họp lực lượng cũng thay đổi cho phù hợp với yêu cầu mới
của hoàn cảnh lòch sử. Đảng chủ trương phải linh hoạt và thực tế trong cách tổ chức lực
lượng quần chúng, không nhất thiết là các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc
là đoàn thể cứu quốc, ngoài các đoàn thể cứu quốc Đảng tổ chức nhiều đòan thể đơn sơ,
không điều lệ, gần gũi với nhân dân như các hội tương tế, hội ái hữu, hội cày, hội cấy, hội
hiếu hỉ…Các tổ chức này hoạt động công khai hoặc nửa công khai để thu hút đông đảo các
tầng lớp nhân dân.
Hình thức tổ chức đấu tranh cũng có sự thay đổi ,từ tổ chức lực lượng một cách bí
mật và đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu chuyển sang hình thức đấu tranh công khai, hợp
pháp hoặc bán công khai, bán hợp pháp là chủ yếu .
Những chủ trương mới của Đảng và sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc giúp cho phong
trào phát triển mạnh mẽ, lực lượng cách mạng được mở rộng đến mọi tầng lớp nhân dân
và gắn kết với phong trào đấu tranh cách mạng chung của thế giới.
Cùng với chủ trương mới và phương thức tổ chức đấu tranh mới của Đảng, trong các
Hội nghò Ban Chấp hành Trung ương từ tháng 7-1936 đến tháng 3-1938, vấn đề dân tộc và
dân chủ đã được bàn lại, được đặt lại theo một tương quan khác theo hướng ưu tiên hơn
cho nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc. Đảng Cộng Sản Đông Dương đã thể
hiện sự nâng cao nhận thức về nhân tố dân tộc ở một nước thuộc đòa, nhận thức và quan
điểm này phù hợp với tinh thần của Chính cương, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc
thông qua trong ngày thành lập Đảng. Song, do nhiệm vụ trước mắt và yêu cầu trước mắt
là chống phát xít, chống chiến tranh nên những nhận thức đó chưa được triển khai thành
nghò quyết.

ngột.
Ba là, có đường lối sách lược liên minh đúng đắn trên cơ sở phân tích chính xác thái
độ chính trò của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Trên cơ sở lấy liên minh công nông
làm nền tảng, Đảng xây dựng một Mặt trận Dân chủ rộng rãi và phù hợp với yêu cầu của
nhiệm vụ chính trò. Đảng đã xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận thống nhất,
trong đó Đảng vừa là thành viên vừa là lực lượng lãnh đạo của Mặt trận, hoạt động theo
nguyên tắc hiệp thương dân chủ.
Bốn là, giữ vững sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng, xây dựng Đảng vững
mạnh về chính trò, tư tưởng và tổ chức, đề cao năng lực tự động công tác và tinh thần trách
nhiệm của từng đảng viên trong mọi lónh vực hoạt động .
III. PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, K
HỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH
QUYỀN (1939 – 1945)
1. Hoàn cảnh lòch sử:
Ngày 1/9/1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan, ngày 3/9/1939 Anh, Pháp tuyên chiến
với Đức. Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Chiến tranh chi phối đời sống kinh tế, chính
trò, xã hội của tất cả các nước, khách quan tạo điều kiện cho phong trào cách mạng của các
nước phát triển.
Download tài liệu này tại :

8
Ở Đông Dương, chính phủ Pháp thủ tiêu những quyền tự do dân chủ mà Đảng và
nhân dân đã đấu tranh giành được trong thời kỳ 1936 – 1939, Ngày 4-1-1940 Toàn quyền
Đông Dương tuyên bố phải “đánh mau chóng và toàn diện vào các tổ chức cộng sản, phải
tiêu diệt cộng sản thì Đông Dương mới yên ổn và trung thành với nước Pháp “.Chính
quyền thực dân thực hiện chính sách thời chiến, tuyên bố đặt Đảng cộng sản Đông Dương
ra ngoài vòng pháp luật. Thực dân Pháp thẳng tay đàn áp Đảng cộng sản Đông Dương,
thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy, giải tán các hội ái hữu, các nghiệp đoàn và tòch thu
tài sản cuả các tổ chức này, Thực dân Pháp đã tăng thuế, trưng thu, trưng dụng các xí
nghiệp tư nhân cho hoạt động quân sự Thanh niên Đông Dương bò tổng động viên, bò

chiếm hầu hết Tây Âu - Đông Âu.
Nhật nhanh chóng chớp lấy thời cơ chiếm đoạt các thuộc
đòa ở Châu Á - Đông Nam Á.
Ngày 12/9/1940, Nhật chính thức tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ
vào Hải Phòng
23/9/1940 Pháp ký hiệp đònh chấp nhận yêu cầu chiếm đóng Đông Dương của Nhật-
Hiệp đònh đầu hàng này được ký ở Hà Nội.
- Ngày 27/9/1940, Nhân dân Bắc Sơn dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ đòa phương đã khởi
nghóa.Quânkhởi nghóa đã chiếm đồn Mõ Nhài,làm chủ châu lỵ Bắc Sơn.
-11/1940,Xứ ủy Nam kỳ xin lệnh của TW khởi nghóa.
Download tài liệu này tại :

9
Nội dung của Hội nghò TW lần thứ VII:
+ Xác đònh kẻ thù là phát xít Pháp - Nhật.
+ Quyết đònh duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn,
+ Đặt vấn đề khởi nghóa vũ trang vào chương trình nghò sự.
+ Quyết đònh hoãn khởi nghóa Nam Kỳ.
Qyết đònh đình hõan khởi nghóa chưa được triển khai thì cuộc khởi nghóa đã bùng nổ ngày
23/11/1940, ngay sau đó ngày 13-1-1941 cuộc binh biến ở đồn Chợ Rạng, huyện Đô Lương
đã diễn ra.Ngày 28-1-1941,NAQ quyết đònh về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách
mạng.Tại Cao BằngNAQ xúc tiến các hoạt động chuẩn bò cho Hội nghò TW lần thứ 8.
Hội nghò lần TW thứ 8 (5/1941) của Đảng tại Pắc Bó, Cao Bằng- Nguyễn Ái Quốc chủ trì.

+ Hội nghò phân tích tình hình chiến tranh thế giới dự báo Đức đangchuẩn bòđánh Liên
Xô và chiếntranh khu vực TBD sẽ bùng nổ.Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc bò suy
yếu,Liên xô nhất đònh thắng,phongtrào cách mạng thế giới sẽ pháttriển nhanh chóng , quân
Đồng minh sẽ thắng lợi, “Cách mạng nhiều nước sẽ thành công”,hệ thống XHCN sẽ ra đời.
+Hội nghò xác đònh sự điều chỉnh chiến lược, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng
đầu của Hội Nghò TW lần thứ 6, thứ 7 là đúng. tiếp tục đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên


10
thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương và các “Hội phản đế” để tập hợp lực lượng.
Trong Hội nghò Trung ương lần thứ 8 (5/1941), Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt minh) – Một mặt trận của tất cả các tầng lớp
nhân dân Việt Nam không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, chính kiến. Tôn chỉ của
Mặt trận là phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập. Đảng chủ trương xây dựng các tổ
chức quần chúng lấy tên là “Hội cứu quốc”. Hội cứu quốc được tổ chức thích hợp với mọi
tầng lớp để tất cả mọi người dân Việt Nam đều có thể dễ dàng tham gia và đóng góp sức
mình cho công cuộc cứu nước giải phóng dân tộc.
Hình thức tổ chức chính quyền sau khi Cách mạng giành được thắng lợi cũng được
Hội nghò Trung ương lần thứ 8 vạch ra : Đó là “Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân
chủ cộng hoà”. Chính phủ nhân dân là chính phủ đại diện cho lợi ích của tất cả các tầng
lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam, tính đại diện của chính phủ nhân dân cao hơn chính
quyền Xô Viết công nông binh, do đó khả năng đoàn kết tập hợp lực lượng dân tộc để
phấn đấu cho việc thành lập chính phủ này sẽ rộng lớn hơn trước.
+ Vấn đề khởi nghóa vũ trang:
Vấn đề đấu tranh vũ trang và khởi nghóa vũ trang đã được vạch ra trong những
Cương lónh đầu tiên của Đảng. Khi Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và cách mạng nước
ta tiến gần đến nhiệm vụ giải phóng dân tộc, vấn đề chuẩn bò cho khởi nghóa vũ trang được
đặt ra một cách cụ thể và trực tiếp.
T Hội nghò Trung ương lần thứ 7 (11-1940) Đảng ta đã quyết đònh duy trì lực
lượng vũ trang của khởi nghóa Bắc Sơn và vấn đề khởi nghóa vũ trang đã được đưa vào
chương trình nghò sự. Ở Hội nghò Trung ương lần thứ 8 (5-1941) Đảng ta xác đònh khởi
nghóa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và toàn dân và tích cực phát triển lực
lượng chính trò , tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và các căn cứ đòa để làm hậu thuẫn
cho khởi nghóa .Nghò quyết của hội nghò ghi rõ “Phải luôn luôn chuẩn bò một lực lượng sẵn
sàng,nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù…”
Hình thái của khởi nghóa ở nước ta được Hội nghò trung ương lần thứ 8 xác đònh xác
đònh là sẽ đi từ khởi nghóa từng phần để tiến tới tổng khởi nghóa.

chính trò với đấu tranh vũ trang mới tiêu diệt được sinh lực của đòch, đè bẹp ý chí xâm lược
của chúng và thu hồi toàn vẹn lãnh thổ.
Ở Hội nghò Trung ương lần thứ 7 tháng 11-1940, ta quyết đònh duy trì lực lượng vũ
trang của khởi nghóa Bắc Sơn, lưc lựợng này sau đó phát triển thành đội Cứu quốc quân
Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết đònh lập đội vũ trang ở Cao Bằng nhằm thúc đẩy việc
phát triển cơ sở chính trò và phát triển lực lượng vũ trang. Ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ
thò của Hồ Chí Minh, đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân được thành lập tại
huyện Nguyên Bình, Cao Bằng do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, phương châm hoạt động là
chính trò trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhằm kết hợp chặt chẽ đấu
tranh chính trò với đấu tranh vũ trang.
Căn cứ đòa là đầu não của lực lượng cách mạng, là chổ đứng chân của lực lượng vũ
trang. Vì vậy Đảng ta chủ trương xây dựng căn cứ đòa một cách toàn diện, trước hết phải
vững mạnh về chính trò, từ vững mạnh về chính trò mà từng bước hình thành và phát triển
lực lượng vũ trang. Vùng Bắc Sơn – Vũ Nhai là căn cứ đòa đầu tiên của Cách Mạng, sau đó
là vùng Cao Bằng, năm 1941 Nguyễn Ái Quốc chỉ thò mở rộng căn cứ đòa Cao Bằng.
Tháng 10/1943 hai trung tâm Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai được nối liền trở thành hai
vùng căn cứ đòa rộng lớn ở Việt Bắc, nhiều đội du kích ra đời.
Trên mặt trận văn hoá tư tưởng, Đảng cũng đẩy mạnh hoạt động để tuyên truyền
đường lối cứu nước và chủ trương chính sách của Đảng. Ta quyết tâm xây dựng một nền
văn hóa mới để chống lại những chính sách thủ đoạn văn hóa xảo quyệt, nô dòch và lai
căng của kẻ thù.
Năm 1943, Đảng đưa ra “Đề cương văn hóa Việt Nam” nhằm xây dựng nền văn
hóa mới với 3 nguyên tắc: “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng”. Cuối năm 1944, Hội văn
hóa cứu quốc ra đời nhằm tập hợp đội ngũ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa vì mục
tiêu giành độc lập tự do cho dân tộc. Tháng 6/1944, Đảng Dân chủ Việt Nam được thành
lập nhằm tập hợp trí thức yêu nước và tư sản tiến bộ. Các tổ chức này đã gia nhập Mặt trận
Việt Minh cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
4. Cao trào kháng Nhật cứu nước và tổng khởi nghóa giành chính quyền:
Tháng 3-1944, Đảng đã nhận đònh mâu thuẫn Nhật và Pháp sẽ dẫn đến chỗ sống
chết “quyết liệt cùng nhau”. Ngày 9/3/1945, đúng như dự đoán của Đảng, phát xít Nhật đã

Minh đã thành lập Ủy ban khởi nghóa toàn quốc. Đồng thời hội nghò toàn quốc của Đảng
họp tại Tân Trào quyết đònh phát động tổng khởi nghóa ,giành chính quyền về tay nhân
dân. 23 giờ ngày 13/8/1945 y ban khởi nghóa ra quân lệnh số 1. Ngày 16/8/1945, đại hội
quốc dân họp ở Tân Trào ủng hộ chủ trương tổng khởi nghóa, thông qua 10 chính sách của
Việt Minh, đònh ra quốc kỳ và quốc ca. Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam được thành
lập do Hồ Chí Minh làm chủ tòch.
Trong vòng 2 tuần lễ (từ ngày 14-8 đến ngày 28-8-1945) nhân dân ta đã giành được
chính quyền trong cả nước. Thủ đô Hà Nội giành được chính quyền ngày 19-8-1945; cố đô
Huế giành được chính quyền ngày 23-8-1945, và Thành phố Sài Gòn giành được chính
quyền ngày 25-8-1945.
Ngày 2-9-1945 Hồ Chí Minh thay mặt toàn dân tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Lễ
Tuyên ngôn độc lập được tiến hành tại Vườn hoa Ba Đình,Nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời.
I. NGUYÊN NHÂN THẮNG LI, Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
Nguyên nhân thắng lợi:

- Nguyên nhân khách quan: hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, quân Đồng minh đánh bại
quân Phát xít , kẻ thù trực tiếp của ta là phát xít Nhật đã bò Liên Xô và các lực lượng đồng
minh đánh bại, ở Đông Dương ,quân viễn chinh Nhật mất tinh thần , chính quyền tay sai
của phát xít Nhật hoang mang rệu rã,tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phong trào giải phóng
dân tộc thành công.
- Nguyên nhân chủ quan:
- Đảng là người tổ chức lãnh đạo nhân dân, Đảng có đường lối đúng đắn ,có kinh
nghiệm tổ chức đấu tranh dày dạn và ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân , Đảng
Download tài liệu này tại :

13
được nhân dân thừa nhận tin tưởng và bảo vệ. Trong Đảng có sự đòan kết thống nhất vì
mục tiêu chung, các đảng viên của đảng kiên trung, sẵn sàng hy sinh tất cả cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc

Đánh giá về ý nghóa của Cách mạng tháng Tám, Chủ tòch Hồ Chí Minh từng viết:”
Chẳng những giai cấp lao động vã nhân dân Việt Nam có thể tự hào, mà giai cấp lao động
và những dân tộc bò áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng:lần này là lần đầu tiên trong
lòch sử cách mạng của các dân tộc thuộc đòa và nửa thuộc đòa, một Đảng mới 15 tuổi đã
lãnh đạo cách mạng thành công đã nắm chính quyền trên tòan quốc “
Bài học kinh nghiệm của Đảng
:
a. Đảng đã vạch ra đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, đã giương cao ngọn cờ độc
lập và chủ nghóa xã hội, Đảng kết hợp đúng đắn 2 nhiệm vụ chống đế quốc và chống
Download tài liệu này tại :

14
phong kiến để tập trung cho nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc với
ý chí tự lực tự cường. Đảng đã đấu tranh để khắc phục sự khác nhau trong Đảng về nhận
thức chính trò và tư tưởng, mạnh dạn điều chỉnh chiến lược, thay đổi chủ trương cho phù
hợp với tình hình thực tế. Đảng đã vận dụng chủ nghóa Mác-Lênin ngày càng sát đúng với
hoàn cảnh của Việt Nam. Đây là bài học kinh nghiệm lớn có ý nghóa khoa học và thực tiễn
sâu sắc.
b. Đảng ta tập hợp lực lượng của toàn dân, dựa chắc vào công nhân và nông dân mở
rộng Mặt trận thống nhất.Đảng đã xây dựng thành công khối đòan kết dân tộc.động viên
tòan dân tổng khởi nghóa giành thắng lợi.
c. Đảng ta khai thác và lợi dụng được sự mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, tập trung vào
kẻ thù chính để giành độc lập.
d. Đảng sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng,kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng
chính trò và lực lượng vũ trang,kết hợp sự nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực
lượng vũ trang CM ở cả nông thôn lẫn thành thò,trong đó đóng vai trò quyết đònh là các
cuộc tổng khởi nghóa ở Huế,Hà Nội &Sài gòn.
e.Đảng đã nắm vững nghệ thuật khởi nghóa,chủ động sáng tạo trong việc chọn thời
cơ, nắm vững thời cơ (giữa lúc Nhật đầu hàng quân Đồng minh và trước khi quân Đồng
minh đổ bộ vào Đông Dương) chủ động sáng tạo trong việc sử dụng các phương thức, hình


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status