Tài liệu Tiểu luận đề tài: Lênin nói "Sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập" từ luận điểm trên làm rõ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Việt Nam trong thời kỳ quá độ" - Pdf 96

Tiểu luận đề tài:
Lênin nói "Sự phát triển là
cuộc đấu tranh của các mặt
đối lập" từ luận điểm trên làm
rõ cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng của Việt Nam
trong thời kỳ quá độ"
1
MỤC LỤC
Ti u lu n t i: ể ậ đề à 1
Lênin nói "S phát tri n l cu c u tranh c a các m t i l p" t lu n ự ể à ộ đấ ủ ặ đố ậ ừ ậ
i m trên l m rõ c s h t ng v ki n trúc th ng t ng c a Vi t Nam đ ể à ơ ở ạ ầ à ế ượ ầ ủ ệ
trong th i k quá " ờ ỳ độ 1
M C L CỤ Ụ 2
LỜI MỞ ĐẦU
2
Đại hội Đảng VI đã mở ra một trang mới cho lịch sử kinh tế Việt
Nam. Bước ngoặt này có ý nghĩa trọng đại: Biến nền kinh tế Việt Nam từ kế
hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, thành nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Bước ngoặt này đánh dấu sự thay đổi, phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội Việt Nam. Sự phát triển này phải chăng là
kết quả của Việt Nam trước Đại hội Đảng VI? Và sự phát triển nào phải
chăng cũng cần trải qua một thời kỳ gọi là. Thời kỳ quá độ?
Lênin - Nhà lãnh đạo lỗi lạc - nhà quản lý xã hội thiên tài đã luôn luôn
nhìn xã hội bằng con mắt của nhà quản lý, và với tầm nhìn chiến lược hàm
chứa phép biện chứng sâu sắc. Ông luôn luôn muốn thay thế xã hội bằng xã
hội khác tốt hơn. Bởi vậy ông đã nói” “Sự phát triển là cuộc đấu tranh của
các mặt đối lập”.
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học
gắn liền với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy: Biện chứng và siêu
hình. Chính cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư

gắn liền với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy - biện chứng và siêu
hình. Chính cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã thúc đẩy tư
duy triết học phát triển và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện
chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và
phương pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh
đúng đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những thách thức để định hướng
cho con người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Phép biện chứng
duy vật không chỉ khái quát những thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể,
mà còn kết tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển tư tưởng triết học
của nhân loại. Phép biện chứng duy vật trình bày một cách có hệ thống chặt
chẽ tính chất biện chứng của thế giới thông qua những phạm trù và những
quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy).
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương
pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người, trong đó, quy luật thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) là hạt
nhân của phép biện chứng. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự
phát triển; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mẫu thuẫn bên trong sự
vật. Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà ý đồ cơ bản của nó là
phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ
bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh
giải quyết mâu thuẫn. Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn. Lênin
nói "Sự phát triển là một cuộc "đấu tranh" giữa các mặt đối lập". Tuy nhiên,
5
hình thức đấu tranh rất đa dạng, linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và
hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Theo quan điểm biện chứng thì sự vật nào cũng là một thể thống nhất
của các mặt đối lập, tức là, các mặt có xu hướng, khuynh hướng trái ngược
nhau. Chính sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn sự
vật.

độ tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại
nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp. Trong thời kỳ quá độ,
nền kinh tế có tính chất quá độ. Nó không còn là nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
2.1. Tính tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế (TPKT) ở Việt
Nam
Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào cũng có phương thức sản
xuất giữ vị trí chi phối. Ngoài ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã
hội trước và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Các
phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức
sản xuất thống trị.
Thành phần kinh tế là một loại hình của quan hệ sản xuất xác định
tương ứng với trình độ và trình độ của lực lượng sản xuất nhất định đã ra đời
nhưng chưa đạt tới độ thống trị trong nền kinh tế hoặc đang bị thủ tiêu dần.
Như vậy, phạm trù thành phần kinh tế và phương thức sản xuất đều
phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, nhưng không đồng nhất về nội dung. Trong thời kỳ quá độ, mỗi
phương thức sản xuất khi chưa hoặc không đóng vai trò thống trị, cũng
không bị trị, lệ thuộc mà tồn tại như những "bộ phận", những "mảnh" trong
7
mối quan hệ vừa thống nhất "xen kẽ", vừa đấu tranh bài trừ gạt bỏ, phủ định
lẫn nhau của kết cấu kinh tế xã hội, thì đó là thành phần kinh tế. Khi một
thành phần, một bộ phận nào đó giữ một vai trò thống trị đối với các thành
phần (bộ phận, hình thức kinh tế khác) thì nó là một phương thức sản xuất
đại diện cho hình thái kinh tế - xã hội đó.
Mỗi thành phần kinh tế có kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh của nó hợp
thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Nền kinh tế - xã hội nước ta tồn tại nhiều thành phần kinh tế là vì các lý
do sau:
- Khi giành chính quyền thì chính quyền mới tiếp quản nền kinh tế chủ

+ Vai trò: chủ đạo, mở đường, duy trì bộ máy nhà nước.
- Xu hướng vận động: Tồn tại lâu dài và có vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế.
2.2.2. Thành phần kinh tế hợp tác.
- Là sự liên kết kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế với các hình
thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, khả năng và lợi ích của các
bên tham gia, có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới pháp nhân. Nòng cốt của
thành phần kinh tế này là hợp tác xã: HTX nông nghiệp, thủ công, cổ
phần…
- Đặc điểm:
+ Sở hữu hỗn hợp
+ Là hình thức kinh tế linh hoạt, hiệu quả
+ Một chủ thể có thể tham gia vào nhiều hợp tác xã.
+ Sản xuất kinh doanh dịch vụ ở tất cả các ngành trong nền kinh tế
- Xu hướng vận động: Tồn tại lâu dài, có thể trở thành kinh tế tư bản tư
nhân hoặc kinh tế tư bản Nhà nước.
2.2.3. Thành phàn kinh tế tư bản nhà nước
- Là thành phần kinh tế mà Nhà nước và các nhà tư bản trong và ngoài
nước hợp tác đầu tư qua việc liên doanh liên kết.
10
- Đặc điểm
+ Sở hữu hỗn hợp
+ Có sức mạnh về vốn, công nghệ, thị trường
+ Sản xuất kinh doanh chủ yếu ở những ngành có lợi nhuận cao
+ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh, tạo ra những ngành
nghề, sản phẩm mới.
- Xu hướng vận động: tồn tại lâu dài, có thể chuyển hoá thành phần
kinh tế tư bản tư nhân hoặc kinh tế nhà nước.
2.2.4. Thành phần kinh tế cá thể
- Là thành phần kinh tế hs sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao

tư bản nhà nước.
Đại hội IX cũng chỉ có: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển
kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật
đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN cùng phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đoạ. kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập
thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
2.3. Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế.
Nền kinh tế hàng hoá quá độ trong đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế
với những kiểu sản xuất hàng hoá không cùng bản chất, vừa thống nhất lại
vừa mâu thuẫn với nhau.
Tính thống nhất của các thành phần kinh tế thể hiện:
- Các thành phần kinh tế trong quá trình hoạt động không biệt lập nhau,
mà gắn bó đan xem xâm nhập lẫn nhau thông qua các mối quan hệ kinh tế,
vì chúng đều là các bộ phận của hệ thống phân công lao động xã hội thống
nhất.
- Mỗi thành phần kinh tế có vai trò và chức năng của nó trong đời sống
kinh tế - xã hội và đều chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
13
- Sự thống nhất của các thành phần kinh tế còn vì yếu tố điều tiết thống
nhất của hệ thống các quy kinh tế đang tác động trong thời kỳ quá độ và thị
trường thống nhất.
Tuy nhiên, các thành phần kinh tế này tồn tại trong mâu thuẫn. Mâu
thuẫn giữa các thành phần kinh tế với nhau thể hiện ở:
+ Mâu thuẫn giữa công hữu và tư hữu.
+ Mâu thuẫn giữa tư nhân với tập thể, với Nhà nước.
+ Mâu thuẫn giữa xu hướng tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Mâu thuẫn là động lực của mọi sự vận động và phát triển. Trong hệ
thống thống nhất của nền kinh tế quá độ chứa đựng những sự đối lập, những
khuynh hướng đối lập, một mặt bài trừ phru định lẫn nhau, cạnh tranh với

tín đến sự nhất quán giữa các thành phần kinh tế và sự phân biệt giữa
chúng,. Trong sự thống nhất đã chứa đựng sự phân biệt và phân biệt giữa
chúng. Trong sự thống nhất đã chứng đựng sự phân biệt để thống nhất.
15
KẾT LUẬN
Thừa nhận sự tồn tại của 6 thành phần kinh tế dựa trên 3 hình thức sở
hữu cơ bản về tư liệu sản xuất cũng có nghĩa là thừa nhận cả những xu
hướng vận động khác nhau của mỗi thành phần kinh tế vì lợi ích riêng của
chúng, trong đó tiềm ẩn cả khả năng phát triển theo hướng TBCN. Điều đó
càng trở nên hiện thực trong xu thế toàn cầu hoá với sự chi phối của các thế
lực tư bản tài chính quốc tế mong muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế nước
ta theo con đường tư nhân hoá. Do đó, quan hệ sản xuất mới từng bước được
xác lập phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất, kinh tế nhà nước thực hiện
tốt vai trò chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng
của nền kinh tế, kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn
tại phổ biến, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỷ trọng
đáng kể. Như vậy, cần quán triệt một số yêu cầu cơ bản sau:
- Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên
trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao
hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu hàng đầu
trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ
chức kinh doanh.
- Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước,
kinh tế hợp tác, làm cho kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng với nền
kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Tạo
điều kiện để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư kinh doanh lâu dài.
áp dụng phổ biến các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.
- Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong
nền sản xuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status