Tài liệu Những công tác cơ bản trong phòng thí nghiệm hóa học - Pdf 97

Những công tác cơ bản trong phòng thí nghiệm hóa học.
Các công tác cơ bản trong PTN hóa học là cắt và uốn ống thủy tinh, chọn và khoan nút,
lắp và sử dụng các dụng cụ TN, hòa tan, lọc, kết tinh, pha chế dung dịch hóa chất, rửa
bình, lọ, đun nóng, bảo quản hóa chất, bảo hiểm trong PTN hóa học.
I. Cắt và uốn ống thủy tinh:
1. Chọn ống thủy tinh:
Ở PTN trường PT thường hay dùng loại ống thủy tinh có đường kính 4 - 6 mm và có bề
dầy 1 - 2 mm. Các loại ống thủy tinh sản xuất trong nước có thể đảm bảo được yêu cầu
này của PTN.
2. Cắt ống thủy tinh:
a. Loại ống thủy tinh có đường kính dưới 10 mm: Dùng dũa sắt có cạnh, giũa ngang chỗ
định cắt thành một vệt nông và bôi ngay nước lạnh vào vết cắt. Dùng hai tay nắm chặt
ống gần chỗ vết cắt, hai ngón tay cái đặt đối diện với nhau, cách nhau 2 cm, dứt ngang về
hai phía thì vệt cắt ở ống thủy tinh sẽ phẳng. Không nên bẻ gập ống thủy tinh thì vệt cắt
sẽ không thẳng. Sau khi cắt nên hơ nóng vệt cắt trên ngọn lửa đèn cồn để không còn cạnh
sắc.
b. Loại ống thủy tinh có đường kính từ 10 - 30 mm cũng dùng giũa có cạnh, giũa ngang
chỗ định cắt thành một vệt dài 3 - 4 mm, lập tức bôi ít nước lạnh vào vết giũa đó. Hơ
nóng đỏ một đầu đũa thủy tinh đã vuốt nhọn và đặt đầu đũa này vào gần vết cắt, ống sẽ
đứt hẳn ra.
3. Uốn ống thuỷ tinh:

Ở đây trình bầy kỹ thuật uốn ống thuỷ tinh trên đèn cồn, vì công việc uốn ống thuỷ tinh
ở các trường PT là rất cần thiết và thường chỉ được tiến hành với đèn cồn.
Ống thuỷ tinh cần được rửa sạch và để khô trước khi đem uốn. Khi uốn ống thuỷ tinh,
tay trái đỡ ống, tay phải cầm ống và dung ngón tay cái cùng với ngón tay trỏ xoay đều
ống trên chỗ nóng nhất của ngọn lửa đèn cồn. Cần hơ nóng đều một đoạn ống dài bằng
chiều dài của cung uốn, sau đó mới hơ nóng tập trung vào một chỗ. Khi uốn ống thuỷ
tinh nóng đỏ và mềm ra thì dung hai tay uốn nhẹ từ từ. Sau đó di chuyển ống thuỷ tinh đi
một chút và tập chung hơ nóng vào chỗ bên cạnh và tiếp tục uốn nhẹ. Từ lúc ống đã bắt
đầu bị uốn cong thì chỉ hơ nóng và xoay phía cong bên trong để ống khỏi có nếp gấp.

thì dung giũa tròn hay dùi đã được đốt nóng dùi ra. Trước khi lắp ống vào nút nên nhúng
ống vào nước cho dễ lắp. Để cho ống thuỷ tinh không bị gẫy và làm đứt tay, tay phải cầm
ống gần sát phía đầu ống lắp và nút và xoay ống cho vào nút dần dần. Tuyệt đối không
cầm ở chỗ uốn cong của ống.
Khi đậy nút vào miệng lọ, ống nghiệm, tay trái cũng cầm hẳn vào cổ lọ hay ống nghiệm
ở gần phía nút, không được tỳ đáy bình cầu vào bàn hay vật khác, dung tay phải xoay nút
vào dần dần cho đến khi nút ngập sâu vào miệng bình khoảng 1/3.
Khi thiếu nút cao su có thể đem cắt những ống cao su (Loại thành dầy, lỗ nhỏ) ra và
đem sửa lại (Mài hoặc gọt) thành nút. Chọn những ống thuỷ tinh thích hợp lắp vào, ta sẽ
được những nút cao su có ống dẫn khí xuyên qua rất tốt.
III. Lắp dụng cụ thí nghiệm:

Trước khi lắp dụng cụ TN cần phải phác hoạ sơ đồ dụng cụ, thống kê các bộ
phận cần thiết, chọn đủ các dụng cụ ấy rồi mới lắp. Cần lắp các bộ phận đơn giản trước.
Nếu có dung những hoá chất có tác dụng với cao su thì nên dung ống thuỷ tinh làm ống
dẫn, chỉ những chỗ nối mới lắp ống cao su. Đường kính bên trong của ống cao su phải
nhỏ hơn đường kính bên ngoài của ống thuỷ tinh. Không nên để ống thuỷ tinh dài uốn
cong nhiều khúc mà nên thay bằng những đoạn nối bằng ống cao su để tránh bị gấy ống
khi đang làm thí nghiệm. Đoạn ống cau su để nối đó không nên làm quá dài, nhất là khi
làm thí nghiệm với các chất ăn mòn ống cao su. Khi lắp dụng cụ cần chú ý hai yêu cầu
sau:
+ Thuận tiện cho thí nghiệm.
+ Hình thức bên ngoài gọn, đẹp, kích thước các bộ phận tương xứng với nhau.
Sau khi lắp xong cần thử lại xem dụng cụ đã kín chưa, nhất là dụng cụ dung trong TN có
chất khí tham gia. Có hai cách thử:
+ Dùng miện thổi vào và nhỏ nước lên chỗ nút để kiểm tra.
+ Nhúng đầu ống dẫn vào nước, dùng tay nắm chặt ống nghiệm hay bình cầu. Nếu dụng
cụ được lắp kín, thì do than nhiệt của bàn tay, không khí trong ống nghiệm hoặc bình cầu
nở ra sẽ đẩy nước và thoát ra ngoài thành những bọt khí.
IV. Hoà tan, lọc, kết tinh lại:

Không đổ đầy chất lỏng đến tận mép giấy lọc, muốn lọc được nhanh nên để lắng trước,
không làm vẩn kết tủa và lọc phần trong trước.
3. Kết tinh lại:

Kết tinh lại là quá trình một chất rắn kết tinh được chuyển vào dung dịch bằng cách
dung một dung môi nào đó và sau khi làm lạnh dung dịch nó lại xuất hiện ở trạng thái
tinh thể nhưng tinh khiết hơn.
Trong PTN hoá học, người ta thường lời dụng quá trình kết tinh lại để tinh chế các
chất, để phân chia hỗn hợp các chất kết tinh lại để tinh chế, …
Quá trình kết tinh laị dựa vào tính chất vật lý của chất kết tinh là thay đổi độ tan trong
dung môi theo nhiệt độ.
Cách tiến hành: Cho chất cần kết tinh vào bình hình nón, cho dần nước hay dung môi
hữu cơ vào để được dung dịch hơi quá bão hoà. Đun nóng dung dịch nhưng chỉ đun đến
nhiệt độ sôi của dung môi để được dung dịch bão hoà nóng. Lọc nhanh dung dịch bão
hoà nóng, phải dung phễu lọc nóng để lọc. Ở dưới phễu, để chậu kết tinh. Các tinh thể sẽ
được tạo thành dần dần, muốn có tinh thể nhỏ, ta làm lạnh nhanh bằng cách đặt chậu kết
tinh vào chậu nước lạnh hoặc nước đá, đồng thời lắc mạnh. Nếu muốn có tinh thể lớn thì
để bình nguội từ từ và không đụng chạm vào bình.
V. Pha chế dung dịch:
Pha chế dung dịch là một trong những nhiệm vụ quan trọng của PTN hóa học
Khi pha chế dd cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:
+ Bình, lọ để pha chế dd phải được rửa sạch và tráng nước cất trước khi pha.
+ Phải dùng H2O cất để pha dd, nếu không có thể dùng nước mưa sạch, tuy nhiên vẫn
không tinh khiết.
+ Trước khi pha dd cần tính toán lượng chất tan và lượng dung môi.
+ Nên pha dd kiềm đặc vào bình sứ.
+ Nếu có thể nên kiểm tra lại nồng độ dd bằng tỷ khối kế.
+ Sau khi pha dd, cần cho vào lọ thích hợp, đậy kĩ, dán nhãn để bảo quản.
Khi pha dd người ta thường dùng các loại ống đo, bình định mức, pipet có chia độ.
Bình định mức dùng để pha dd có nồng độ mol/l và nồng độ đương lượng. Vạch ở trên cổ

Muốn pha 250 gam dd H2SO4 10% thì phải lấy 25 gam axit nguyên chất 100%.
Nhưng ở đây chỉ có axit 92% nên phải lấy: 25.100/92 = 27,2 gam.
Lượng axit này bằng 27,2/1,824 = 14,9 ml. Dùng ống đo nhỏ lấy 14,9 ml H2SO4 92% đã
cho rót vào ống đo khác đã đong sãn 222,8 ml (250 – 27,2 = 222,8 g) H2O ta sẽ được
dung dịch cần dùng. Có thể kiểm tra lại bằng cách dùng tỉ khối kế đo khối lượng riêng
dung dịch 10% axit trên mới pha có tỉ khối gần 1,1
3. Pha dung dịch có nồng độ mol/l.
Thí dụ cần pha 250 ml dung dịch NaCl 0,1M. Khối lượng mol của NaCl là 58,5 gam.
Trong 1 lít dung dịch 0,1 M có 0,1 mol (5,85 gam) NaCl. Vậy trong 250 kml dung dịch
phải có 5,85/4 = 1,46 gam NaCl. Do đó cần lấy gần 1,5 gam NaCl vào ống đo sau đó
them H2O vào cho đủ 250 ml. Như thế ta được dung dịch cần pha chế. Muốn được chính
xác hơn thì pha chế vào bình định mức.
4. Pha dung dịch có nồng độ đương lượng N:
Thí dụ pha 100 ml dung dịch 0,1N muối BaCl2.2H2O. Muối BaCl2.2H2O có khối
lượng mol là 244 và đương lượng là 244/2 = 122. Dung dịch BaCl2 có nồng độ 0,1 N
nghĩa là trong 1 lít dung dịch có 12,2 gam BaCl2.2H2O. Vậy trong 100 ml dung dịch có
1,22 gam BaCl2.2H2O. Quá trình pha dung dịch được tiến hành như trên
5. Pha dung dịch có nồng độ đã định trước theo khối lượng riêng:
Cách pha dung dịch đơn giản hơn cả là dùng tỷ khối kế, rồi đối chiếu với bảng nồng độ
được tính sãn.
Rót dung dịch vào ống đo, nhúng tỉ khối kế vào đó. Nếu muốn có dung dịch axit loãng
hơn thì rót them H2O từ từ vaò (Nếu là H2SO4 thì phải rót axit vào H2O).
6. Pha loãng dung dịch:
Trong nhiều TN ở trường PT ta cần dung dịch có nồng độ loãng hơn dung dịch hiện có
trong PTN. Lúc đó ta phải pha loãng dung dịch. Sự pha loãng thường được biếu thị bằng
tỷ số 1 : 1, nghĩa là cứ 1 thể tích dung dịch ban đầu ta them vào 1 thể tích dung môi.
7. Pha chất chỉ thị và một số thuốc thử đặc biệt:
a. Dung dịch quỳ:
Quỳ tím là một chất hữu cơ có mầu được lấy từ một số loại rêu biển (địa y). Cũng
giống như một số chất mầu thực vật khác, mầu của nó biến đổi theo môi trường phản

d. Pha dung dịch hồ tinh bột:
Hồ tinh bột được dùng rộng rãi nhất để nhận ra I2 tự do. Muốn pha 150 – 200 ml hồ
tinh bột thì lấy 0,5 gam tinh bột đã nghiện thật nhỏ cho vào nước lạnh làm thành bột
loãng. Vừa khuấy đều vừa đổ bột loãng đấy vào 150 – 180 ml nước đun sôi ta sẽ được hồ
tịnh bột.
Cũng có thể làm theo cách khác: Hoà tan 0,5 gam tinh bột vào 100 ml nước cất đun
sôi, tiếp tục đun sôi them 5 phút nữa rồi để nguội. Có thể dùng nước cơm thay hồ tinh
bột.
e. Nước vôi:
Nước vôi dùng để nhận ra khí CO2 và là kiềm rẻ tiền nhất.
Cách pha: Hoà tan vôi tôi vào H2O. Vì độ tan của vôi tôi rất nhỏ nên phải pha như sau:
Cho một ít vôi tôi vào bình cầu, đổ them H2O cho đầy đến gần cổ bình để diện tích tiếp
xúc của chất lỏng với không khí là nhỏ nhất. Đậy nút kín và để lắng hỗn hợp trong vài h
trở lên, sau đó lọc lấy phần nước trong ta sẽ được nước vôi trong. Cần phải đậy nút thật
kín các bình đựng nước vôi, nếu không khi để lâu nó sẽ bị hỏng vì nước vôi tác dụng với
CO2 có trong không khí.
VI. Cân và cách sử dụng cân:
Trong PTN trường phổ thông thường hay sử dụng cân kĩ thuật (cân đĩa, cân quang…)
1. Cân đĩa (Cân Robecvan):
Phải đặt cân trên mặt bàn bằng phẳng. Khi không cân, kim chỉ thăng bằng phải ngang
nhau. Nếu không thăng bằng phải vặn lại hai ốc điều chỉnh ở hai đầu cán cân.
+ Quả cân: Cân đĩa thường có hộp đựng quả cân: 1 quả 100 gam, 1 quả 50 gam, 1 quả 20
gam, 2 quả 10 gam, 1 quả 5 gam, 2 quả 2 gam và một số quả cân dưới 1 gam là những
mảnh nhôm nhỏ hình vuông hay hình tam giác. Khi không dùng phải để quả cân ở trong
hộp ứng với ô tương ứng. Dùng kẹp lấy quả cân, không được dùng tay vì như thế cân sẽ
thiếu chính xác.
+ Cách cân: Tuyệt đối không để hoá chất trực tiếp lên đĩa cân. Hoá chất lỏng đựng vào
cốc hay các bình đựng khác có kích thước thích hợp. Khi cân hoá chất rắn lấy 2 tờ giấy
cùng khổ đặt lên 2 đĩa cân cho thăng bằng. Đổ hoá chất đó lên tờ giấy ở đĩa cân bên trái,
đĩa cân bên phải thì đặt quả cân. Khi cân chất lỏng độc, bốc khói, dễ bay hơi cần dùng

b. Nếu còn vết kết tủa thì rủa bằng HCl đặc nguội hay đun nóng.
c. Nhiều khi phải dùng đến dung môi như benzene, ete, etxăng… hay hỗn hợp
sunfocromic. Dùng hoá chất gì để tẩy rửa là tuỳ thuộc vào hoá chất bẩn trong bình, lọ.
Cách làm hỗn hợp sunfocromic như sau: Hoà tan 1 phần khối lượng K2Cr2O7 với 2,5
phần khối lượng của H2O. Sau đó rót 1/3 thể tích H2SO4 đặc (d = 1,84) vào với 2/3 thể
tích muối K2Cr2O7 vừa pha xong, nếu hỗn hợp chưa tan thì phải đun nhẹ trong bát sứ.
Sauk hi rửa chai, lọ ta lại đổ lại hỗn hợp rửa vào bình chứa. Hốn hợp này dùng lại nhiều
lần cho đến khi biến đổi thành mầu xanh thì mới bỏ đi. Sau khi rửa sạch bình, lọ nên
tráng một lượt H2O rồi úp lên giá.
VIII. Quy tắc sử dụng các dụng cụ thuỷ tinh:
+ Khi đun nóng dụng cụ thuỉy tinh phải đun nóng từ từ và đều. Không được đun nóng
dụng cụ thuỷ tinh có thành dầy và dụng cụ thuỷ tinh có chia độ cũng như không được rót
nước nóng vào các dụng cụ đó.
+ Không được đựng các dung dịch kiềm đặc và axit đặc trong các dụng cụ thuỷ tinh
mỏng.
+ Những bộ phận nhám (khoá, nút) phải bôi vazolin trước khi dùng. Khi bảo quản phải
lót giấy, đánh số hay buộc dây đê tránh nhầm lẫn.
+ Phải để dụng cụ thuỷ tinh ở tủ, ngăn riêng, tránh va chạm mạnh.
IX. Đun nóng:
1. Dùng đèn cồn:
Khi đun nóng chú ý để đáy ống nghiệm (hoặc thành của vật muốn đun nóng) vào chỗ
nóng nhất của ngọn lửa đèn cồn, tức là vị trí 2/3 của ngọn lửa từ dưới lên. Không để đáy
ống nghiệm vào sát bấc đèn cồn vì như thế ống sẽ bị vỡ. Khi đun nóng cần lắc nhẹ ống
nghiệm và hướng miệng ống về phía không có người.
Khi dùng đèn cồn cần chú ý đến lượng cồn trong đèn, cách tram đèn và tắt đèn. Không
nên để cồn trong đèn cạn dần khô kiệt vì cồn còn quá ít sẽ tạo hốn hợp nổ với không khí.
Không nên rót cồn vào đèn quá đầy mà chỉ rót đến gần ngấn cổ. Tuyệt đối không được
châm đèn bằng cách lấy ngọn đèn cồn nọ châm vào ngọn đèn cồn kia, vì làm như thế cồn
đổ ra sẽ bốc cháy. Muốn tắt đèn thì dùng nắp đèn chụp vào ngọn đèn mà không được thổi
bằng miệng

4. Các kim loại Na hay K cần đựng trong lọ dầu hỏa hay xăng, khi làm TN nếu thừa một
lượng nhỏ thì phải gắp bỏ vào, không được vứt bừa bãi có thể gây ra hỏa hoạn. P trắng
được đựng trong lọ H2O, khi cắt nhỏ cũng phải cắt trong H2O. Đục hộp chưa P trắng
cũng phải tiến hành trong chậu nước.
5. Muối KClO3, KNO3 cần được đựng vào lọ sạch, không để lẫn, để gần chất dễ cháy.
6. Cần có nhãn ghi công thức và nồng độ bên ngoài các lọ hóa chất, các lọ hóa chất để
bàn nên có hai nhãn đối diện nhau để quán sát được từ hai phía.
XI. Bảo hiểm trong PTN Hóa học:
Việc bảo đảm an toàn trong khi làm TN là một công tác cơ bản, rất quan trọng của mọi
người vào làm việc trong PTN.
Những quy tắc cơ bản để đảm bảo an toàn khi làm TN và một số PP cấp cứu đầu tiên
trình bầy dưới đây cũng có thể giúp ta tham khảo trong việc phòng và chống chất độc hóa
học, chống ô nhiễm môi trường.
1. Quy tắc về bảo hiểm trong khi làm TN:
a. Thí nghiệm với chất độc:
Trong PTN có rất nhiều chất độc như Hg gây rối loạn thần kinh, rụng răng hợp chất
của As, P trắng làm mục xương, làm bỏng hợp chất xianua, CO (Thở không khí có 1%
CO có thể làm người ta bị chết), NO2, SO2, NH3, Cl2, Br2 phá hủy nặng cơ quan hô
hấp, Br2 lỏng gây bỏng da, rượu metylic, phenol, axit HCOOH cũng gây bỏng da Uống
phải 10 ml CH3OH có thể gây mù mắt, benzen, xăng cũng là những chất độc. Do đó phải
cẩn thận khi dùng các chất này và phải làm theo các nguyên tắc sau:
+ Nên làm TN với các khí độc ở trong tủ hốt hay nơi thoáng gió và mở rộng cửa phòng.
Chỉ nên lấy lượng hóa chất tối thiểu để làm TN được nhanh và giảm bớt khí độc bay ra.
+ Không được nếm và hút các chất độc bằng miệng. Phải có khẩu trang và thận trọng khi
ngửi các hóa chất. Không hít mạnh hay kề mũi vào bình chứa hóa chất mà chỉ nên phẩy
hơi hóa chất vào mũi.
+ Đựng Hg trong các lọ dầy, có nút kín và nên có một lớp H2O bên trên. Khi rót đổ Hg
nên có chậu to hứng bên dưới và thu hồi ngay những hạt nhỏ rơi vãi bằng cách dùng đũa
thủy tinh gạt vào tờ giấy cứng. Nếu có nhiều hạt nhỏ lọt xuống khe bàn thì phải dùng bột
S rắc vào, không được lấy Hg bằng tay.

O2
+ Tuyệt đối không cho học sinh làm những TN quá nguy hiểm như đập hh KClO3 và S
khi thiếu các điều kiện bảo đảm thật đầy đủ.
Trước khi đốt cháy một khí nào phải thử xem chất đó đã nguyên chất chưa, vì các khí
cháy được thường tạo với không khí hỗn hợp nổ.
Không được vứt Na, K vào chậu nước, bể rửa với lượng lớn.
CÁC QUY ĐỊNH KHI LÀM VIỆC TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM HOÁ HỌC
1.1. Nội quy phòng thí nghiệm:
Mọi người làm việc trong phòng thí nghiệm (PTN) đều phải được học tập, kiểm tra về
nội quy an toàn lao động, nắm vững các quy trình, quy phạm kĩ thuật và các biện pháp
đảm bảo an toàn lao động.
Mỗi người chỉ làm việc trật tự, giữ gìn vệ sinh và tuân thủ hướng dẫn của cán bộ phụ
trách tại nơi quy định. Không tiếp khách lạ hoặc làm ngoài giờ quy định, nếu muốn làm
ngoài giờ thì cần có sự đồng ý của trưởng PTN và phòng Bảo vệ nhà trường.
Phải đọc kĩ tài liệu, hiểu rõ mọi chi tiết của thí nghiệm trước lúc làm và lường trước các
sự cố có thể xảy ra để chủ động phòng tránh.
Tiến hành thí nghiệm thì cần quan sát và ghi chép kĩ các số liệu để làm bản báo cáo thí
nghiệm. Sau giờ làm việc phải lau chùi, sắp xếp gọn gàng các thiết bị và dụng cụ thí
nghiệm. Lưu ý: lấy hoá chất, dụng cụ thí nghiệm ở đâu thì đặt lại vị trí cũ. Trước khi rời
khỏi PTN cần phải kiểm tra lại PTN, khoá các van nước, đóng ngắt cầu dao điện,
Ngoài những quy định chung nêu trên thì mỗi PTN tuỳ theo tính chất chuyên môn cần đề
ra những quy định riêng nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và tài sản trong
phòng.
1.2. Quy tắc an toàn:
1.2.1. Tất cả các thí nghiệm có sử dụng chất độc dễ bay hơi, có mùi khó chịu, các khí độc
hoặc các axit đặc phải được tiến hành trong tủ hốt ( ) hoặc nơi thoáng gió. Cần tìm
hiểu về các hoá chất dùng trong PTN để biết các đặc tính như: tính độc, khả năng cháy,
nổ, để tránh xảy ra những sai sót khi tiến hành thí nghiệm, dẫn đến những hậu quả đáng
tiếc.
a. Làm việc với các chất độc:

1.3. Cách sơ cứu chấn thương và ngộ độc trong PTN: Vấn đề này sẽ chỉ được nói chung
chung bởi có nhiều trường hợp tai nạn PTN và mỗi trường hợp có 1 cách xử lí khác nhau
Tủ thuốc : trong PTN luôn được đặt ở nơi dễ thấy, dễ lấy và dễ sử dụng. Trong tủ thuốc
thường có các loại bông băng, thuốc đỏ, cồn iot, thuốc mỡ, các dung dịch KMnO4 3%,
CuSO4, NaHCO3 2%, CH3COOH 1%, dung dịch tanin trong cồn
Khi bị axit đặc (H2SO4, HNO3, HCl, HOAc, ) hoặc brom, phenol bắn hoặc rơi vào da
thì phải rửa ngay bằng vòi nước mạnh trong vài phút, sau đó dùng bông tẩm NaHCO3
2% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên chỗ bỏng và băng lại.
Khi bị bỏng do kiềm (kim loại hoặc dung dịch đặc) thì phải rửa bằng nước, sau đó rửa
bằng dung dịch HOAc 1% rồi rửa lại bằng nước một lần nữa và bôi thuốc sát trùng, băng
lại.
Khi bị bỏng do vật nóng, thuỷ tinh, mảnh sứ thì phải gắp các mảnh chất rắn đó ra và
dùng bông tẩm KMnO4 3% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên vết bỏng, sau đó băng
lại bằng thuốc có tẩm thuốc mỡ chứa bỏng.

Khi bị hoá chất bắn vào mắt thì phải rửa bằng nước nhiều lần để sơ cứu và đem đến bệnh
viện gấp.
Nếu bị nhĩêm độc do hít thở nhiều phí Cl2, Br2, H2S, CO, thì phải đưa ngay ra chỗ
thoáng. Khi bị nhiễm độc kim loại As, Hg, hoặc độc chất xianua thì phải chuyển ngay
đến bệnh viện để cấp cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status