Mức sinh
Thực trạng dân số của
I. Yếu
1.Tâm lý muốn sinh con trai.
Nhiều gia đình muốn sinh con trai để “ nối dõi tông đường”, để được đỡ đần khi tuổi
già. Đặc biệt khi tư tưởng trọng nam khinh nữ còn nặng nề thì dù sinh nhiều con gái thì
vẫn sinh thêm với mong muốn có con trai.
2. Tâm lý muốn sinh nhiều con để chăm sóc lúc tuổi già.
Số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ nhiều gần gấp 2,5 lần số phụ nữ bước ra ngoài độ
tuổi sinh đẻ:
+Số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ là: 48,05%
+Số phụ nữ bước ra độ tuổi sinh đẻ là: 19,5%
Cơ cấu tuổi của việt Nam làm cho việc giảm mức sinh khó. Hiện nay Việt Nam đang ở
trong thời kỳ dân số vàng, mà ở độ tuổi này chủ yếu là đọ tuổi sinh đẻ.
Hữu sinh vô dưỡng, mức chết cao, đặc biệt là mức chết của trẻ em làm tăng mức sinh.
Sinh bù và sinh dự phòng.
Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm
1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương
mức tăng 1,98%/năm. Trong đó:
-Thời kỳ 1921-1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm
-Thời kỳ 1943-1951 tăng 56,1 nghìn người / năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân
chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và số người bị chết trong chiến tranh.
-Thời kỳ 1951-1957 tăng 753 nghìn người/năm hay tăng 3,03%/năm.
-Thời kỳ 157-1976 tăng 1135,8 nghìn nguời/năm hay tăng 3.08%/năm.
-Thời kỳ 1976-1985 tăng 1190,2 nghìn nguời /năm hay tăng 2,21%/năm.
-Thời kỳ 1985-2008 tăng 1142,9 nghìn người/năm hay tăng 1,60%/năm.
Riêng thời kỳ 2000-2008 tăng 1065,6 nghìn người/năm tương mức tăng 1,31%. Như
vậy, mặc dù tốc đọ tăng dân số bị giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy
mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu nguời, bằng với quy mô dân số
trung bình của 1 tỉnh.
II. Mạnh
học phí cho các gia đình đông con. Ngoài ra, có sự mâu thuẫn giữa các chính sách:Các
gia đình sinh con quá giới hạn bị đóng tiền phạt nhưng các gia đình đông con được miễn
giảm học phí;chính sách dân số vẫn chưa được hoàn thiện vẫn con những thiếu sót.Việc
thực thi các chính sách của những người có trách nhiệm chưa cao.Đã tạo điều kiện làm
tăng mức sinh.
Mọi người, đặc biệt là lớp trẻ hiểu biết chưa đầy đủ về sức khỏe sinh sản,chương trình
giáo dục giới tính đã được đưa vào trường học nhưng việc dạy và học chưa hiệu quả.
Trong
IV. Thuận lợi
Công tác tuyên truyền thực hiện tốt:Hiện nay,ở hầu hết các địa phương đều có cán bộ
làm công tác tuyên truyền phổ biến kế hoạch hóa gia đình.
Một trong những nguyên nhân làm tăng mức sinh là vấn đề bất bình đẳng giới, tuy
nhiên hiện nay vấn đề bình đẳng giới đang được quan tâm.Phụ nữ còn được quan tâm
hơn nam giới,có nhiều người phụ nữ thành đạt và làm ở các cáp lãnh đạo va quan trọng
không kém gì nam giới như phó chủ tịch nước TRƯƠNG MỸ HOA…
Nền kinh tế đang phát triển mạnh,việc nhận thức được nuôi dạy con tốt được phổ biến
và áp dụng rộng rãi.
Có các phương tiện truyền thông,giáo dục thay đổi hành vi.
Có các chính sách giáo dục sức khỏe sinh sản,kế hoạch hóa gia đình được tuyên tryền
rông rãi,mở rộng hiểu biết đến người dân tộc thiểu số,vùng nông thôn…
Đẩy mạnh được xã hội hóa .xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách đân số và kế
hoạch hóa gia đình.
Tại VIỆT NAM có rất nhiều biện pháp trách thai được sử dụng:uống thuốc tránh thai
sử dụng biện pháp trách thai an toàn…đa phần được áp dụng ở thành thị,nơi có trình độ
dân trí cao
Thời gian tới nghành dân số sẽ tập trung để nâng cao chất lượng dân số,cải thiện chất
lượng giống nòi.Trong đó tập trung vào vấn đề tư vấn,kiểm tra sức khỏe tiền hôn
nhân,sàng lọc trước sinh và sơ sinh.
Mức sinh của VIỆT NAM đang liên tục giảm trong nhiều năm qua.Tính đến 0h ngày
01/04/2009 tổng dân số VIỆT NAM là:85.789.573người.Sau 10 năm tăng thêm