Các phương pháp chẩn đoán ung thư
Chẩn đoán xác định bệnh ung thư là bước đầu liên quan trọng nhất khi bệnh
nhân ung thư đến với thầy thuốc. Quá trình chẩn đoán ung thư đi từ đơn giản như hói,
khám bệnh bằng nhìn, sờ, gõ, nghe đến phức lạp hơn như quan sát các tế bào các bào
quan. Các phân tử dưới kính hiển vi điện tử. Với nhiều phương tiện kỹ thuật ngày càng
hiện đại. tinh vi cho phép tiếp cận hầu như mọt ngóc ngách trong cơ giúp chấn đoán
ung thư ngày càng sớm và chính xác hơn.
KHÁM LÂM SÀNG
Khám lâm sàng là phương pháp lâu đời được áp dụng rộng rãi nhất. Một khi
bệnh nhân đến khám ảnh là đã có một số hiện tượng mà thầy thuốc phải xem xét để
đưa ra chẩn đoán. Thầy thuốc cần phải biết rõ những triệu chứng ban dầu chính yếu
của các loại ung thư khác nhau. Người thầy thuốc đầu tiên khám bệnh là người có
trách nhiệm quan trọng trong việc chẩn đoán sớm đề bệnh nhân có nhiều nhất hy vọng
dược chữa khỏi.
Cần khai thác tỉ mỉ tiền sử của bệnh nhân. xác định những người có nguy cơ
cho mắc ung thư.
Tiền sử gia đình mà tính chất bẩm sinh về ung thư không phải là yếu tố di
truyền. nhưng lại tồn tại rõ rệt trong một số gia đình .
Điều kiện kinh tế xã hội là quan trọng. Đối với phụ nữ. tỉ lệ ung thư cổ tử cung
cao hơn ở những quần thể diều kiến kinh tế - xã hội thấp.
Tiền sử hôn nhàn và giải lính cũng quan trọng. Số lần sinh đẻ và quá trình cho
còn bú có ảnh hưởng đến tỉ lệ ung thư vú, cũng như sinh hoạt tình dục sinh có liên
quan đến ti lệ lang cao ung thư cổ tử cung.
Những tập quán cá nhân như hút thuốc lá làm táng tỉ lệ ung thư phế quản. nhai
thuốc hay hút thuốc bàng thu làm tâng tí lệ ung thư miệng.
Đối với nghề nghiệp của bệnh nhân: thợ nạo ống khói được ghi nhận có nhiều
ung thư da: thợ sơn mài đồng hồ tiếp xúc với chất phóng xạ qua bút lông cho vào
miệng có tì lệ cao ung thư xuống; thợ nhuộm dùng hoá chất Anllin có thể gáy ung thư
bàng quang, trong khi thợ tiếp xúc với A-ml-ăng có tỉ lệ tăng cao ung thư trung biểu
mô ở phổi.
Chụp X-quang kết hợp chất cản quang để phát hiện ung thư thực quản, dạ dày, đại
tràng. Chụp đối quang kép có thể tìm ra những pôlíp nhỏ khó thấy khi ta khám xét
bang các phương pháp thông thường. Chụp vú có hệ thống cho kết quả tốt trong phát
hiện ung thư vú. Chụp X-quang xương có hệ thống có thể phát hiện được các sarcôm
xương nhất là đối với các thanh thiếu niên có triệu chứng đau xương khớp chưa rõ
nguyên nhân. Chụp mạch có giá trị chẩn đoán đối với bất kì cơ quan nào bằng cách
tiêm chất cản quang vào ống thông được đặt chính xác vào động mạch. Chụp ảnh
mạch và động mạch ít được sử dụng để chẩn đoán ung thư so với trước đây. Phương
pháp X-quang thông thường khó phát hiện được các u nhỏ và không cho phép chẩn
đoán chính xác các loại u, thậm chí tỉ lệ âm tính giả và dương tính giả còn cao.
Chụp nhiệt
Chủ yếu dùng cho các khối u ở nóng hoặc dưới da như ung thư vú. ung thư học
tố. ung thư giáp trạng.
Chụp nhấp nháy
Đòng vị phóng xạ được sử dụng để chẩn đoán ung thư và tỏ ra rất có lợi vì một
số đồng vị phóng xạ chi tập trung vào các vùng đặc hiệu. Thường được dùng để phát
hiện các di căn xương. gan; xác định các nhân lạnh ở giáp trạng
Siêu âm
Được áp dụng nhiều để phát hiện các tổn thương u ở sâu hay ở trong các cơ
quan nội lạng. Phương pháp này được dùng rộng rãi để dẫn đường cho các kỹ thuật
sinh thiết hoặc chọc hút bằng kim nhỏ.
Chụp cất lớp vi tính (Có là một thành tựu của phương pháp vật lí hiện đại, liên
bộ lớn vê chất lượng chụp. Nó cho phép chụp hàng loạt hình rất rõ và chính xác theo
chiều ngang của cơ thể (như các khoanh giò) ở mọi mức cao thấp. để trình bày hình
khối ba chiêu của các cơ quan trong cơ thể và tránh được sự chồng chất các hình ảnh.
Chụp cắt lớp vi tjnh hiện nay được ứng dung một cách phổ biến, ngày càng chứng tỏ
khả năng phục vụ tốt trong chẩn đoán ung thư. Nó có khả năng phát hiện các khối u
dường kính xấp xỉ lem trong nhiều cơ quan. kể cả các cơ quan nằm sâu trong cơ thê
khó với tới như. não thôn và tuy tạng
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Là những chất được các tế bào ung thư tổng hợp ra và thường thì không thấy
hoặc thấy với số lượng rất thấp ở các tế bào lành mạnh. Hiện nay, người ta tìm được
khoảng năm chục chất chỉ điểm sinh học của ung thư, nhưng chỉ có khoảng chừng
mươi loại được dùng để phát hiện sớm ung thư hoặc để theo dõi quá trình điều trị.
Kháng nguyên AFP (Alpha-fetoprotein) tảng cao trong ung thư gan hoặc
ung thư tinh hoàn. Kháng nguyên CEA (Carcinoembryonic Antigen) cho phép
nghĩ đến các ung thư ống tiêu hoá hoặc ung thư vú. Kháng nguyên VCA(Viral Capside
Antigen) được thấy trong ung thư vòm họng. Việc đo HCG (Human Chorionic
Gonadotropin) được dùng để theo dõi các trường hợp thai trứng cũng như hướng dẫn
chẩn đoán và điều trị carcinôm màng đệm. Xác định DOPA (Dihydroxyphenylalanin),
dopamin trong u hắc tố ác tính. tim protein Bence- jones trong bệnh u tương bào. Xác
định Photphataza acid trong ung thư tuyến tiền liệt Mức độ photphataza kiềm tăng
trong huyết thanh thường thấy ở các di căn xương. CA-153 thường tăng cao trong
bệnh ung thư vú. Gần đây, có một số chất chỉ điểm sinh học mới tìm ra, trong đó CA-
125 (Cancer Antigen-125) là có giá trị ở ung thư buồng trứng vì 80% phụ nữ bị bệnh
này có chất đó ở mức độ cao.
Phương pháp nội soi
Nội soi giữ một vai trò quan trọng trong chẩn đoán ung thư. Nhờ có những
phương tiện quang học mà có thể nhìn thấy, chụp ảnh các tổn thương tiền ung thư và
lấy đi để làm xét nghiệm mô bệnh học. Trong những năm 1960, người ta đã sử dung
rộng rãi ống nội soi cứng để soi các lỗ hay các hốc tự nhiên trong cơ thể. Ngày nay đã
có ống nội soi mềm dùng ánh sáng lạnh phổ biến ở các nước phát triển để khám xét
phần lớn các cơ quan nội tạng. Nhờ sử dụng ánh sáng lạnh cao thế mà ta nhìn thấy
những hình ảnh rõ nhất và những hình ảnh đó lại có thể được hiện ra màn hình hoặc
máy quay phim video để ghi nhận lại.
Chẩn đoán tế bào học
Năm 1943. sự ra đời của cuốn sách nhan đề: "Chẩn đoán ung thư cổ tử cung
bang phiến đồ âm đạo" do Papanicolaou và Trình biên soạn dã mở đầu cho một thời kì
phát triển mạnh chuyên khoa tế bào học. lưới y học đều biết đến phân loại nôi tăng của
Papanicolaou như sau:
nhận: "mô bệnh học là tiếng nói cuối cùng".
Việc sử dụng kỹ thuật hóa mô miễn dịch và kính hiển điện tử đã mở rộng
việc đánh giá các tổn thương vi thể bao gồm các đặc điểm về sinh hóa và siêu
cáu
trúc của tế bào góp phần cho chẩn đoán mô bệnh học chính xác hơn.
Gần đây sự phân tích tế bào học di truyền của DNA và các nghiên cứu di
truyền học phân tử đã bổ sung cho kính hiển vi quang học như là các xét
nghiệm
có giá trị trong chẩn đoán ung thư.
KẾT LUẬN
Có nhiều phương pháp chẩn đoán ung thư. Trong thực tế, phương pháp nào
cũng có âm tính và dương tính giả tuy mức độ có khác nhau. Người thầy thuốc
chẩn đoán ung thư phải lựa chọn và kết hợp chỉ định các phương pháp khác nhau,
trong đó có những phương pháp nhất thiết phải làm. Tuy nhiên, con đường chẩn đoán
ung thư hợp lí nhất là đi từ lâm sàng đến cận lâm sàng, từ giản đơn đến phức tạp.
Tài liệu tham khảo
1 . Hướng dẫn thực hành chẩn đoán điều trị ung thư. Nhà xuất bản Y học-
1999.
2. Nguyễn Chấn Hùng. Ung bướu học nội khoa. Nhà xuất bản Y học - 2004.
3. Gevald Murphy MD Walter Laurence Jr. MD Raymond E. Lenhard Jr.
MD Cltntcaloncology textbook of American Cancer Soc"ety, Second Edition.
4. Vincent T. Devlta Jr Priclples and Practlce of 0ucology 7th edltion; part 3.