Tài liệu Lịch sử Nhật Bản - Pdf 97

Lịch sử Nhật Bản
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bài viết này có chứa các ký tự Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển
thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông,
hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Nhật Bản.
LỊCH SỬ NHẬT BẢN

• Thời kỳ đồ đá cũ 35000–14000 TCN
• Thời kỳ Jōmon 14000–400 TCN
• Thời kỳ Yayoi 400 TCN – 250 SCN
• Thời kỳ Kofun 250–538
• Thời kỳ Asuka 538–710
• Thời kỳ Nara 710–794
• Thời kỳ Heian 794–1185
• Thời kỳ Kamakura 1185–1333
o Tân chính Kemmu 1333–1336
• Thời kỳ Muromachi 1336–1573
o Thời kỳ Nam-Bắc triều 1336–1392
o Thời kỳ Chiến Quốc
• Thời kỳ Azuchi-Momoyama 1568–1603
o Mậu dịch Nanban
• Thời kỳ Edo 1603–1868
o Bakumatsu
• Thời kỳ Minh Trị 1868–1912
o Minh Trị Duy Tân
• Thời kỳ Đại Chính 1912–1926
o Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
• Thời kỳ Shōwa 1926–1989
o Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản

o 3.1 Thời kỳ Nara
o 3.2 Thời kỳ Heian
• 4 Thời trung thế
o 4.1 Thời kỳ Kamakura
o 4.2 Thời kỳ Nam - Bắc triều
o 4.3 Thời kỳ Muromachi
o 4.4 Thời kỳ Chiến Quốc
o 4.5 Thời kỳ Azuchi-Momoyama
• 5 Thời cận thế
o 5.1 Thời kỳ Edo
• 6 Thời cận đại
o 6.1 Thời kỳ Minh Trị
o 6.2 Thời kỳ Đại Chính
• 7 Thời hiện đại
o 7.1 Sơ kỳ Chiêu Hòa
o 7.2 Hậu kỳ Chiêu Hòa (1945-1989)
o 7.3 Thời kỳ Heisei
• 8 Chú thích
• 9 Xem thêm
• 10 Tài liệu tham khảo
• 11 Liên kết ngoài
[sửa] Sơ sử
[sửa] Thời đồ đá cũ
Bài chi tiết: Thời đồ đá cũ ở Nhật Bản
Từ khoảng 15.000 năm đến 5.000 năm trước Công nguyên, ở Nhật Bản đã có những bộ
tộc người nguyên thủy sống du mục, săn bắt và hái lượm
[2]
.
[sửa] Thời kỳ Jōmon
Bài chi tiết: Thời kỳ Jōmon

Triều Tiên. Sau này, việc kiểm soát phía nam Triều Tiên bị
suy yếu, và sự tranh ngôi trong gia đình
Thiên hoàng đã đe dọa quyền lực của Đại Hòa.
Đạo Phật và đạo Khổng bắt đầu được du nhập
[4][5]
.
[sửa] Thời kỳ Asuka
Bài chi tiết: Thời kỳ Asuka
Thời kỳ Asuka ( | Phi Điểu thời đại) kéo dài từ cuối thế kỷ 6 đến đầu thế kỷ 8.
Thánh Đức Thái tử () phục hồi quyền lực của vương quốc Đại Hòa. Các cố gắng
đầu tiên để tạo nên hiến pháp
[6]
và một hệ thống giai cấp chính thức. Thánh Đức THái Tử
quảng bá cho đạo Phật
[7]
. Một số chùa Phật giáo được xây dựng như Shitenno-ji
(, Tứ Thiên Vương tự), Horyu-ji (, Pháp Long tự). Gia đình Soga (,
Tằng Ngã) trở nên quyền lực, tuy nhiên sau này đã bị Fujiwara-no-Kamatari (,
Đằng Nguyên Liêm Túc) dưới quyền hoàng tử Naka-no-Oe (, Trung Đại Huynh
Hoàng Tử) lật đổ. Cải cách Đại Hóa (, còn gọi là cải cách Taika) theo những ý
tưởng trước đây của Thánh Đức Thái Tử. Chấm dứt sự cai trị của người Nhật Bản ở Triều
Tiên. Tinh thần của cải cách Taika được thể hiện trong bộ luật gọi là Ritsuryo (, Luật
lệnh) dưới thời
Thiên hoàng Thiên Vũ (, Temmu), sau này được cải tiến dưới thời
Thiên hoàng Văn Vũ (, Mommu), cháu nội của ông.
[sửa] Thời trung cổ
[sửa] Thời kỳ Nara
Bài chi tiết: Thời kỳ Nara
Thời kỳ Nara ( | Nại Lương thời đại) kéo dài từ năm 710 đến năm 794.
Nara trở thành kinh đô, bộ luật Ritsuryo được hoàn thành. Thiên hoàng có uy quyền lớn.

có tiểu thuyết đầu tiên của thế giới, cuốn
Truyện kể Genji do Murasaki Shikibu chấp bút,
tùy bút Sách gối đầu của Sei Shonagon, cuốn Truyện kể Ise, và Nhật ký Tosa.
Hậu kỳ Heian (Cuối thế kỷ 11 đến 1192) •
Bắt đầu một thế kỷ các Thiên hoàng rời xa thế tục, đi tu nhưng vẫn gián tiếp cai quản
công việc triều chính. Triều đình dần biến thành một quốc gia không có thực quyền, quan
liêu xa rời thực tế, không chăm lo đến các phúc lợi công cộng mà chỉ bận tâm tới việc
xây dựng chùa chiền và truyền bá tư tưởng Phật giáo. Tầng lớp quý tộc trong triều đình
suy đồi và vô dụng. Giáo phái Phật giáo Jodo (Tịnh độ tông) phát triển. Quyền lực của
các phe cánh địa phương với nền tảng là hệ thống samurai tăng lên. Dẫn đầu trong số họ
là các gia đình Minamoto (Genji) và Taira (Heike hoặc Heishi). Các chùa chiền cũng duy
trì lực lượng tự vệ. Những cuộc tranh giành quyền lực trong Hoàng gia và các yếu tố
khác cuối cùng đã đem lại uy thế cho gia đình Taira, nhưng sau một phần tư thế kỷ nắm
quyền, rốt cuộc nhà Taira lại bị nhà Minamoto đánh bại.
[sửa] Thời trung thế
[sửa] Thời kỳ Kamakura
Bài chi tiết: Thời kỳ KamakuraVõ sĩ Samurai của Nhật Bản tấn công thuyền chiến Mông Cổ năm 1281.
Thời kỳ Kamakura ( | Liêm Thương thời đại) kéo dài từ năm 1185 đến năm 1333.
Minamoto-no-Yoritomo được bổ nhiệm làm Chinh di Đại Tướng quân (Seiji-Taishogun).
Mạc phủ ở Kamakura được thiết lập. Phát triển nông nghiệp nhờ sử dụng súc vật kéo.
Thu hoạch vụ mùa nửa năm một lần. Bổ nhiệm chức vụ "thủ hộ" (shugo) và "địa đầu"
(jito). Giáo phái Phật giáo Jodo phát triển. Giáo phái Thiền tông du nhập từ Trung Quốc.
Sau cái chết của Yoritomo, gia đình Hojo trở thành các quan nhiếp chính trong chế độ
Mạc phủ. Dòng dõi Minamoto chẳng bao lâu kết thúc, nhưng gia đình Hojo vẫn tiếp tục
làm các quan nhiếp chính, kiểm soát cả các Thiên hoàng lẫn các Chinh di Đại Tướng
quân. Giáo phái Phật giáo
Nichiren (hoặc Hokke) phát triển. Truyện kể Heike với âm

vào năm 1392, chế độ Mạc phủ này cuối cùng hoàn toàn được thừa nhận. Võ sĩ Samurai
vẫn tiếp tục làm xói mòn quyền lực của giai cấp quý tộc tại các thái ấp (shoen). Chính
quyền Mạc phủ bổ nhiệm một số người giữ chức thủ hộ như đã có từ thời cầm quyền của
Mạc phủ Kamakura. Tuy nhiên, những người này không phải là tùy tùng của nhà
Ashikaga, họ hành động vì lợi ích của chính họ, phát triển thành các thủ lĩnh đại danh-thủ
hộ của võ sĩ samurai địa phương với quyền hành riêng. Uy quyền của chế độ Mạc phủ
không ngừng bị giảm sút do ảnh hưởng bởi sự yếu kém của triều đình. Tuy vậy, các môn
nghệ thuật như cắm hoa, trà đạo, lại phát triển. Các bộ môn Kịch Nô, Kyogen ở giai
đoạn cực thịnh. Nghệ thuật thư họa bằng cây cọ và mực Tàu, nghệ thuật tranh nhiều màu
sắc rực rỡ theo trường phái Kano phát triển. Kết thúc thời kỳ này là cuộc
chiến tranh
Onin. Sau đó chế độ Mạc phủ hầu như mất toàn bộ quyền kiểm soát, dẫn đến thời kỳ của
các cuộc nội chiến. Mặc dù vậy, thời kỳ này đã chứng kiến sự phát triển của nghề cá, khai
thác mỏ, buôn bán, Các thị trấn phát triển xung quanh các thành trì, đền chùa và hải
cảng.
[sửa] Thời kỳ Chiến Quốc
Bài chi tiết: thời kỳ Chiến Quốc (Nhật Bản)
Thời kỳ Chiến Quốc (, tức là thời kỳ Sengoku) kéo dài từ năm 1493 đến năm
1573.
Đây là thời kỳ đầy rẫy những bất ổn định chính trị, xã hội và chiến sự. Khắp Nhật Bản,
các lãnh chúa đều chiêu mộ võ sĩ, xây dựng lực lượng riêng và đánh chiếm lẫn nhau. Các
tổ chức tôn giáo có những tín đồ sẵn sàng tử vì đạo cũng nổi dậy chiêu mộ nông dân, và
chiến đấu giành quyền lực với các lãnh chúa đại danh.
Quyền lực dần dần chuyển từ trên xuống dưới: từ Chinh di Đại Tướng quân đến gia đình
Hosokawa (cấp dưới của Chinh di Đại Tướng quân), đến gia đình Miyoshi (cấp dưới của
Hosokawa) và cuối cùng là gia đình Matsunaga (cấp dưới của Miyoshi). Quyền lực của
đại danh-thủ hộ tăng lên, thay thế tầng lớp quý tộc cũ kiểm soát các thái ấp. Họ cố thủ
trong các khu vực của mình và tìm cách mở rộng quyền lực.
[sửa] Thời kỳ Azuchi-Momoyama
Bài chi tiết: Thời kỳ Azuchi-Momoyama

Bài chi tiết: Thời kỳ EdoNền đá của tháp chính trong lâu đài Edo, nơi các Shōgun nhà Tokugawa ở.
Thời kỳ Edo (, tức là thời kỳ Giang Hộ), còn gọi là thời kỳ Tokugawa, kéo dài từ
năm
1603 đến năm 1868.
Sơ kỳ Edo (1603 đến đầu thế kỷ 18) •
1600, Tokugawa Ieyasu đánh bại liên quân bốn mươi daimyo miền Tây tại Shekigahara
và nắm chính quyền. Tokugawa Ieyasu được bổ nhiệm làm
shōgun (cả Oda Nobugana
lẫn Toyotomi Hideyoshi đều không cố gắng trở thành mà chỉ duy trì quyền lực qua các vị
trí chính thức tại triều đình). Các daimyo chống đối gia đình Tokugawa đều bị chuyển tới
các thái ấp ở những vùng xa trung tâm và bị ép phải dùng phần lớn của cải của họ để làm
đường và các dự án khác, bị buộc phải luân phiên di chuyển hàng năm giữa Edo và thái
ấp của mình, để lại gia đình làm con tin lâu dài ở Edo. Các thái ấp được những người tùy
tùng của Shogun cai quản, tuy nhiên quyền lực ở đây rất lớn. Thành lập bộ luật hợp pháp
cho các gia đình quý tộc, tạo điều kiện cho chế độ Mạc phủ kiểm soát triều đình và Thiên
hoàng. Hệ thống 4 đẳng cấp sĩ, nông, công, thương (shinokosho) được thừa nhận, cùng
Cùng với việc thống nhất đất nước, quyền lực của chế độ Mạc phủ được củng cố, việc cai
trị tập trung, công nghiệp và nghề thủ công phát triển mạnh mẽ, giao thông được cải
thiện, đem lại sự thịnh vượng cho buôn bán và thương mại nội địa. Các thị trấn mọc lên
ngày càng nhiều và rất hưng thịnh, đặc biệt là các đô thị quanh cung điện. Giới thương
gia trở nên giàu có, và từ tầng lớp này xuất hiện những hình thức nghệ thuật mới, bao
gồm thơ haiku mà Matsuo Basho là người khai sáng, tiểu thuyết bình dân của Ihara
Saikaku, kịch của Chikamatsu Monzaemon, các bản tranh ukiyoe, kịch Kabuki được dàn
dựng lần đầu tiên ở Kyoto vào đầu thời kỳ này, sau đó hạn chế chỉ dành cho diễn viên
nam, bắt đầu được diễn ở Edo và Osaka vào cuối thế kỷ 17.
• Trung kỳ Edo (Đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19)
Hệ thống Mạc phiên không ngừng suy yếu do sự tập trung của cải vào tay giới thương

ngày 29 tháng 7 năm 1858. Giới trí thức Nhật Bản coi các hiệp định này là bất bình đẳng,
do Nhật Bản đã bị ép buộc bằng sự đe dọa chiến tranh, và là dấu hiệu phương Tây muốn
kéo Nhật Bản và chủ nghĩa đế quốc đang nắm lấy phần còn lại của lục địa châu Á. Bên
các phương tiện khác, họ đã cho các quốc gia phương Tây quyền kiểm soát rõ rệt đối với
thuế nhập khẩu và đặc quyền ngoại giao (extraterritoriality) đối với tất cả các công dân
của họ tới Nhật Bản. Đây sẽ là một cái gai trong quan hệ giữa Nhật Bản với phương Tây
cho tới khi thế kỉ mới bắt đầu.
[sửa] Thời cận đại
[sửa] Thời kỳ Minh Trị
Xem bài chính về Thời kỳ Minh Trị
Thời kỳ Minh Trị (, hay thời kỳ Meiji) kéo dài từ năm ngày 25 tháng 1 năm 1868
đến ngày 30 tháng 7 năm 1912, là thời kỳ tại vị của Thiên hoàng Minh Trị (1852-1912).
Minh Trị Duy Tân •
Xem bài chính về cuộc Minh Trị Duy Tân
Việc nối lại quan hệ với phương Tây đã dẫn đến sự đổi thay lớn đối với xã hội Nhật Bản.
Chinh di Đại Tướng quân phải từ bỏ quyền lực, và sau Chiến tranh Mậu Thìn năm 1868,
quyền lực của Thiên hoàng được khôi phục. Cuộc Minh Trị Duy Tân tiếp theo đó đã mở
đầu cho nhiều đổi mới. Hệ thống
phong kiến bị hủy bỏ và thay vào đó là nhiều thể chế
phương Tây, trong đó có hệ thống luật pháp phương Tây và một
chính quyền gần theo
kiểu lập hiến nghị viện. Các thái ấp phong kiến bị bãi bỏ và thay thế bằng hệ thống quản
lý hành chính theo cấp tỉnh. Quyền lực tập trung trong tay Thiên hoàng. Các đẳng cấp
trong xã hội phong kiến bị huỷ bỏ. Quân đội quốc gia và việc tuyển quân, chế độ thuế
mới, hệ thống tiền tệ theo hệ thập phân, mạng lưới đường sắt, cùng các hệ thống thư tín,
điện thoại, điện báo được thiết lập. Công nghiệp hiện đại được khởi đầu với các nhà máy
do nhà nước xây dựng và điều hành, sau này được chuyển sang sở hữu tư nhân. Việc cải
cách gặp phải sự chống đối đáng kể nhưng đều bị dẹp yên. Quan hệ buôn bán với Triều
Tiên và Trung Quốc được thiết lập. Nhà nước đã nỗ lực hết sức để sửa đổi những hiệp
ước bất bình đẳng đã được ký kết với các nước phương Tây. Năm

chế quân chủ lập hiến. Thiên hoàng và thế lực quân phiệt Nhật nằm giữ mọi quyền hành.
Theo Điều 3 (Chương I), "Thiên hoàng có quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm".
[10]
Hoạt động quân sự •
Năm 1874, thấy người Trung Quốc giết hại nhiều thương gia đến từ Okinawa (Nhật),
triều đình Minh Trị xuất binh đánh chiếm Đài Loan. Năm 1875, đánh Triều Tiên, buộc
nước này phải mở cửa cho hàng hóa của Nhật Bản. Do Trung Quốc tranh chấp ảnh hưởng
của Nhật đối với Triều Tiên, tháng 7 năm 1894, chiến tranh Thanh-Nhật nổ ra tại bán đảo
Triều Tiên; đến tháng 4 năm sau thì kết thúc với thắng lợi thuộc về Nhật.
Năm 1894, hiệp ước bất bình đẳng với Anh Quốc trong buôn bán được sửa đổi và các
hiệp ước với những quốc gia khác cũng sửa đổi theo cho phù hợp. Chiến hạm Nhật đánh chìm Hạm đội Nga ở Port Athur 1904 Đế quốc Nhật Bản. Cho tới trước khi Thế chiến thứ hai kết thúc, thuộc địa của Nhật tại
vùng Đông Á đã tăng gấp gần 5 lần diện tích quốc gia.
Sau thắng lợi của Nhật trước Trung Quốc, Nga, Đức và Pháp ép Nhật phải từ bỏ một số
quyền lợi do lo ngại Nhật bành trướng lấn Nga, tạo ra mâu thuẫn lâu dài và sâu sắc giữa
Nhật và các nước trên. Liên minh Anh - Nhật hình thành. Năm 1904, Chiến tranh Nga-
Nhật bùng nổ tại Mãn Châu. Nhờ đường lối sách lược đúng đắn của triều đình Minh
Trị,
[11]
kết thúc năm 1905 sau Hải chiến Đối Mã với thắng lợi thuộc về người Nhật.
Năm 1909, Nhật Bản quyết định chiếm Triều Tiên và thực hiện điều đó ngay trong năm
1910.
Cuộc chiến với Trung Quốc đã làm cho Nhật Bản thành một đế quốc hiện đại và hùng
mạnh đầu tiên của phương Đông. Còn cuộc chiến với Nga chứng tỏ rằng một cường quốc
phương Tây có thể bị một quốc gia phương Đông đánh bại. Kết cục của hai cuộc chiến là

Chiêu Hòa lên trị vì năm 1926 đến khi Thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945.
Suy thoái kinh tế và bế tắc ngoại giao. Xuất khẩu giảm sút. Phá sản xảy ra thường xuyên,
nhiều người thất nghiệp. Chính sách kiềm chế của Mỹ đối với Nhật Bản gia tăng gây nỗi
bất bình lớn ở Nhật. Hiệp định Ishii-Lansing, thừa nhận quyền lợi đặc biệt của Nhật Bản
ở Trung Quốc đã chấm dứt. Các dự thảo luật chống người nhập cư Nhật Bản ra đời và
phong trào trục xuất người Nhật ở Trung Quốc lan rộng. Nội các không thể đối phó được
vì các nhà chính trị và các nhà tài phiệt đã chiếm độc quyền, bị thu hút bởi các lợi ích tài
chính, mà quên mất quyền lợi quốc gia và sự đau khổ của nhân dân. Rắc rối lên đến đỉnh
điểm ở cánh hữu gây ra những vụ ám sát và các hoạt động quân sự, dẫn tới chính sách
mở rộng xâm lược ở Trung Quốc, rút khỏi Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc)
và chủ nghĩa bành trướng của những người theo chủ nghĩa quân phiệt cánh hữu gia tăng.
Sau này họ đã liên kết với chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã. Tháng 9 năm 1931,
Nhật Bản tiến hành đánh vùng Đông Bắc Trung Quốc
Trong năm 1939, đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh chống lại phát xít. Không những có
tầng lớp nhân dân đấu tranh mà còn có cả binh lính và sĩ quan.
Từ năm 1940, Đế quốc Nhật Bản đã xâm chiếm thêm các nước Đông Nam Á, bao gồm:
Việt Nam, Lào, Campuchia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanma (Miến
[sửa] Hậu kỳ Chiêu Hòa (1945-1989)
Sự thất bại trong chiến tranh và sự sụp đổ của chủ nghĩa quân phiệt. Hứng chịu thảm họa
bom nguyên tử lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Bắt đầu thời kỳ Nhật Bản bị chiếm
đóng lần đầu tiên trong lịch sử. Vị trí tối cao của
Thiên hoàng không còn khi chế độ quân
chủ nghị viện được thiết lập và Hiến pháp hòa bình ra đời. Tiến hành các cải cách dân
chủ, xây dựng lại nền công nghiệp bị tàn phá. Hiệp ước San Francisco có hiệu lực.
Sau khoảng 10 năm hậu chiến, Nhật Bản đã đạt được các kỳ tích về kinh tế và đời sống
của nhân dân được nâng cao
[12]
. Kỷ niệm 100 năm (1868-1968) Duy Tân Minh Trị
Kawabata Yasunari, nhà văn Nhật Bản, được trao giải Nobel văn học. Bước phát triển
kinh tế ngoạn mục đem đến cho Nhật Bản vai trò quốc tế như một quốc gia thương mại

4. ^ "Buddhist Art of Korea & Japan," Asia Society Museum; "Kanji,"
JapanGuide.com; "Pottery," MSN Encarta; "History of Japan," JapanVisitor.com.
5. ^ Delmer M. Brown (ed.), ed (1993). .
Cambridge University Press. 140-149
The Cambridge History of Japan
.
http://books.google.com/books?vid=ISBN0521223520&id=x5mwgfPXK1kC&pg
=PA159&lpg=PA159&vq=buddhism&dq=Paekche+hostage+japan&sig=dwsfsm
f80GCVdVXe90a5s9Tkq34.; George Sansom, A History of Japan to 1334,
Stanford University Press, 1958. p. 47. ISBN 0-8047-0523-2
6.
^ Mason, R.H.P and Caiger, J.G, A History of Japan, Revised Edition, Tuttle
Publishing, 2004
7.
^ See Nihon Shoki, volumes 19, Story of Kinmei. [1]"Nihon Shoki
8. ^ See Nihon Shoki, volumes 19, Story of Kinmei. [2]"Nihon Shoki
9. ^ Thẩm Kiên, 10 Đại Hoàng đế thế giới, trang 284-286
10.
^ Mục từ Chủ nghĩa quân phiệt trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam
11.
^ Triều đại hoàng đế Minh Trị - Tạp chí Ngày Nay - Cơ quan ngôn luận của Hiệp
Hội UNESCO Việt Nam
12. ^ John Dower, Embracing defeat, W.W. Norton, 1999, pp.323-325; Herbert Bix,
Hirohito and the making of modern Japan, Perennial, 2001. pp.583-585.
13. ^ , Kobe Marine Observatory
14. ^ The Bubble Economy of Japan , San José State University Department of
Economics
Xem thêm
• Samurai
• Mạc phủ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status