Tài liệu Các nền văn minh cổ đại - Nền văn minh Lưỡng Hà - Pdf 97

NỀN VĂN MINH LƯỠNG HÀ
Lưỡng Hà nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates là một trong những vùng đất phì nhiêu ở
Tây Á - nơi mà người Hy Lạp cổ đại gọi là Mesopotamia, xuất hiện nhiều quốc gia bao gồm cả
Babylon, Assyria, Phenicia và Palestine - hiện nay đang có nhiều tranh chấp với nước láng
giềng Do Thái về lãnh thổ - có một nền văn minh hội tụ và tổng hợp của nhiều nền văn hóa
tác động lẫn nhau. Nói chung lại đây là nền văn minh Tây Á đã đóng góp không nhỏ vào kho
tàng văn hóa của nhân loại.
Lưỡng Hà là một dải đất phì nhiều, mầu mỡ thuận lợi cho việc canh tác, như trồng các loại hoa
quả như trồng nho, hoặc đại mạch hay olive v.v Ngoài ra người vùng Lưỡng Hà lúc bấy giờ
còn chú trọng về chăn nuôi gia súc cũng như phát triển cả nghề đánh cá, đem lại một nguồn
lợi thiên nhiên không nhỏ cho quốc gia này.
Đặc biệt Lưỡng Hà có được khí hậu nóng ẩm hạp với việc canh tác, sản xuất được các thực vật
có thể nói là đa dạng, lại hàng năm vào tháng Năm hàng năm có nước lũ của hai dòng sông đổ
về phù sa mầu mỡ đổ vào vùng đồng bằng giúp cho hoa màu phong phú. Các cư dân nhiều địa
phương khác hội tụ về đây càng ngày càng nhiều, và cũng
chính vì vậy mà sinh ra nhiều tranh chấp về quyền lợi, tạo ra các mối chia rẽ khiến Lưỡng Hà
khó lòng thống nhất được.
Nền văn minh cổ đại xuất hiện trước nhất ở lưu vực Lưỡng Hà từ người Sumeria từ vùng núi
phương Đông di cư đến vào thiên niên kỷ thứ lV Tr.CN.
Tại vùng Nam Lưỡng Hà bắt đầu vào đầu thiên niên kỷ thứ III Tr. CN. mọc lên những thành thị
xuất hiện tại vùng đồng bằng, kết hợp lại với các vùng đất phù nhiêu chung quanh lập thành
các quốc gia đầu tiên tại ở đây.Người giữ chức vụ tối cao của các bang đó lúc bây giờ gọi là
Patesia. Quốc gia này cai trị bởi các Hội đồng bô lão, Hội Đồng Nhân Dân,coi như là Lưỡng
viện. Các Hội Đồng này bầu ra các nhà lãnh đạo, các viên chức hành chánh để điều hành
guồng máy quốc gia. Thống nhất được vùng Lưỡng Hà này do từ thành bang Lagate vào thế kỷ
thứ XXV Tr. CN., nhưng sau đó thì quyền bá chủ của Sumeria lại lọt vào tay của thành bang
khác : đó là thành bang Uruk.
Dần dà trung tâm kinh tế Lưỡng Hà không còn ở miền Nam Lưỡng Hà nữa do vấn đề địa lý
phải đưa lên miền Bắc nơi lưu vực có hai dòng sông gần nhau nhất mà thành phố Akkad - nơi
tiếp các sự di chuyển đường thủy được xem là thuận lợi cho việc chuyển vận mà Nam Lưỡng
Hà không có điều kiện như vậy.

cái gì sẽ tồn tạn tại vĩnh viễn ở trần gian này.
Các công trình đồ sộ của Lưỡng Hà như cung điện đến đền miếu được cất trên những bệ cao
và tất cả đều dùng bằng vật liệu gạch đá. Cung điện được xem là một công trình vĩ đại nhất
của bang Lagate vào thế kỷ thứ XXll Tr.CN. đó là cung điện của Judea. Judea là vị hoàng đế
của thành Lagate. Thời kỳ này các lịch pháp Âm, Dương lịch cũng đã ra đời và các đài Chiêm
tinh còn rải rác tại nhiều nơi được xem là những di tích lịch sử của một nền văn minh cổ đại ở
Tây Á.
Lịch Sử Chiêm Tinh Học Ai Cập
Chiêm tinh học đã đóng một vai trò quan trọng trong xã hội kể từ khi bắt đầu có nền văn minh
thế giới và thậm chí có thể đã có từ trước đó. Lịch sử chiêm tinh học đã có từ rất lâu; người ta
tin rằng nguồn gốc của nó bắt đầu ở Hy Lạp. Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới nhất của các nhà
khoa học, chiêm tinh học đã ra đời trước đó rất nhiều và người Ai Cập cổ đại đã ứng dụng
thuật ''bói toán'' này để tiên đoán hầu hết các vấn đề diễn ra trong cuộc sống thường nhật.
Những người Sumerian là cư dân đầu tiên định cư tại Mesopotamia từ khoảng 4.000 năm trước
Công nguyên và là những người đầu tiên thờ Thần Mặt trời, Thần Mặt trăng và Thần Tình ái.
Họ coi những vị thần này như là những đấng tối cao che chở cho cuộc sống bình yên của họ.
Tên của Thần mặt trăng là Wanna; Thần mặt trời là Utu; và Thần Tình ái là Inanna. Và những
người Sumeria chỉ thờ có 3 vị thần này; nhưng thực tế thì có rất nhiều vị thần khác cũng
không kém phần quan trọng được thờ trong các lăng tẩm của người Sumerian. Người
Akkandoan ở gần khu vực Sumer cũng chọn Thần Mặt trời, Mặt trăng và thần Tình ái để thờ;
và chỉ thay tên của những vị thần này mà thôi. Nói chung hầu hết các bộ lạc đều thờ ba vị
thần này, chỉ có điều với tên gọi khác nhau. Việc đặt tên cho các vị thần do các thành viên của
cộng đồng đó quyết định, gắn với một dấu tích nào đó của cộng đồng.
Thầy tu là những người đầu tiên đảm trách công việc ''giao tiếp'' với các đấng thần linh. Do
vậy mà hệ thống đền thờ miếu mạo được tạo ra và hàng trăm nghìn người với nhiều vai trò
khác nhau đã đến đây theo yêu cầu của các vị linh mục chức cao; nhạc sĩ Một trong những
vị thầy tu này đã trở thành nhà vua. Vị vua này đã lập một ''cung điện'' riêng và đặt dưới sự
cai quản của một nhà chiêm tinh học. Người này sẽ là một nhà ''thông ngôn'' diễn giải về bầu
trời, những dự báo về các hiện tượng tự nhiên như nguyệt thực, nhật thực Và người ta còn
nói rằng ''thầy tu'' là những nhà chiêm tinh học đầu tiên. Để có thể ''giao tiếp'' được với các vị

người Roman; cuối cùng là tên tiếng Anh. Tên các hành tinh vào thời Assynian như sau: Sun =
Shamash (Mặt trời); Moon = Sin (Mặt trăng), Venus = Ishtar (Sao Kim), Mercury = Nebo (Sao
Thuỷ), Mar = Nergal (Sao Hoả), Satum = Ninurta (Sao Thổ); Tupite = Marduk (Mộc).
Thời kỳ tiếp theo trong lịch sử của thuật chiêm tinh là thời kỳ Babylon Mới (600 - 300) trước
Công nguyên. Các nhà chiêm tinh học nổi tiếng của thời kỳ này là Kiddinu, Berossus,
Autipatrus, Aichinop và Sudines. Thời kỳ này được biết đến nhờ những lời tiên tri; điểm báo về
những sự kiện chính xuất hiện.
Người Hy Lạp bắt đầu gây nhiều ảnh hưởng lớn đến chiêm tinh học vào thế kỷ thứ 14 và 15
trước Công nguyên. Đây là thời kỳ của những nhà tiên phong nổi tiếng về khoa học hiện đại
như Plato; Pitago, người ta đã khẳng định được thuyết ''trái đất quay xung quanh mặt trời''.
Trong khi đó, nhà khoa học Euduxers lại cho rằng chiêm tinh học là điều nực cười; không ai tin
vào những lời tiên tri về cuộc sống lại dựa vào ngày sinh của mình. Tuy nhiên, các nhà chiêm
tinh học như Gritodemus; Apollognius vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu về chiêm tinh hay tử
vi bói toán.
Lịch Sử Chiêm Tinh Học Ai Cập (P2)
Người La Mã cổ đại không chấp nhận thuật ''chiêm tinh'' hoặc bói toán này. Nhưng vào khoảng
năm 250 trước Công nguyên; một số lượng dân cư khá đông trở nên quan tâm đến chiêm tinh
học nhưng nhiều kẻ bảo thủ thì đấu tranh chống lại hầu hết các tín ngưỡng, kể cả Đạo Thiên
chúa. Họ đưa ra nhiều lý lẽ logic để chống lại những người tin vào ''tử vi'' bói toán; và cho
rằng những người sinh ra cùng ngày cùng giờ thì có nhiều số phận khác nhau; những người
sinh ra khác ngày khác giờ thì lại chết cùng giờ.
Tuy nhiên, chiêm tinh học vẫn lan rộng sang khu vực Thành La Mã bất chấp những cố gắng để
trục xuất các nhà chiêm tinh học ra khỏi đế chế.
Nhưng cuối cùng thì chiêm tinh học vẫn được chấp nhận và hầu hết người La Mã cổ đại đã chịu
chấp thuận một khía cạnh của giáo dục từ người Hy Lạp. Nếu người La Mã không cho phép du
nhập chiêm tinh học vào nền văn hóa của mình thì mọi thứ đã khác xa so với những gì đóng
góp của người Ai Cập đối với nghệ thuật.
Vào năm 331 trước Công nguyên, Alexarder đã thiết lập ra thành phố Alexandnia. Đây là mốc
đánh dấu giai đoạn khởi đầu của Graeco Roman trong lịch sử Ai Cập. Alexandnia trở thành một
trong những thành phố Alellnistoc nổi tiếng. Hellnism là một thuật ngữ miêu tả cách sống của

- Cuốn thứ 3 đề cập đến con người; nói về những khái niệm về ngày sinh
- Cuốn cuối cùng là đề cập đến các vấn đề nghề nghiệp hôn nhân con cái, đi lại
Tetrabiblos bao gồm tất cả những nghiên cứu về chiêm tinh học, việc khía cạnh khác cũng
được đề cập đến nhưng tất cả những gì chúng ta biết đến về chiêm tinh học đều bắt nguồn từ
công việc nghiên cứu này.
Một số nhà phê bình cho rằng, cuốn sách chứa đựng khá nhiều mâu thuẫn ngay trong tư tưởng
của Ptolemy. Hơn nữa ông đã không tính đến hiện tượng sự chồng chéo giữa các chòm sao và
những chòm sao trở nên lớn hơn qua thời gian (5/300 năm) nhưng tại sao ông lại không xác
nhận và giải thích về sự huyền bí này trong nghiên cứu của mình.
Có một số vấn đề về mối tương quan giữa chiêm tinh học và các mùa. Ông tin rằng khái niệm
thời gian là hoàn hảo đối với việc bói toán theo ngày sinh; và khái niệm thời gian đến với mỗi
người là tương đối khó, dẫn đến một số sai sót trong nghiên cứu của ông. Nhưng nhìn chung
các nội dung trong Ietrabiblos không có nhiều giá trị tính đến ngày nay.
Một số nhà chiêm tinh học Ai Cập nối gót Ptolemy nghiên cứu về chiêm tinh học như Paul
Alexandnia, Hephestion Họ nghiên cứu thêm về Tetrabibleo của Ptolemy. Khoảng năm 800
sau Công nguyên; chiêm tinh học bị rơi vào quyên lãng một thời gian. Và sau đó hồi sinh vào
thế kỷ thứ 8 khi người Hồi giáo bắt đầu tin vào ''chiêm tinh học'' Hellenistoc. Đó là Almumasar,
một nhà trí thức theo đạo Hồi, ông đã mang niềm tin về chiêm tinh học như chúng ta đã biết
đến với thế giới phương Tây.
Tóm lại, Ai Cập là đất nước có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của chiêm tinh
học, những thăng trầm trong lịch sử Ai Cập đã để lại dấu ấn đậm nét trong sự phát triển của
ngành chiêm tinh học. Những đóng góp này thực sự có ý nghĩa đối với sự phát triển và tiến
hoá của nhân loại.
Đế quốc Ai Cập
Tôn giáo Ai-cập
Huân tước Flinders Petrie, nhà Ai-cập học trứ danh, nói rằng tôn giáo nguyên thủy của Ai-cập
là độc thần giáo. Nhưng trước khi thời kỳ lịch sử bắt đầu, đã phát triển một tôn giáo trong đó
mỗi bộ lạc có vị thần riêng, hình dung bằng một con vật.
Ptah (Apis) là thần của thành Mem-phi, hình dung bằng con bò.
Amon, thần của thành Thèbes, hình dung bằng con chiên đực.

Amosis (Ahmes, Ahmose) 1580 T.C Ðuổi dòng Hyksos đi. Bắt xứ Pa-lét-tin và xứ Sy-ri làm
chư hầu của Ai-cập.
Amenhotep (Amenophis) 1560 T.C.
Thothmes (Thothmes, Thutmose) 1540 T.C Cầm quyền cai trị tới sông Ơ-phơ-rát. Lăng
tẩm đầu tiên đục trong vầng đá.
Thothmes đệ nhị 1510 T.C Hatshepsut, chị cùng cha khác mẹ và cũng là vợ của ông, thật
đã cầm quyền cai trị. Thường đem quân tấn công miền sông Ơ-phơ-rát.
Thothmes đệ tam 1500 T.C Hoàng hậu Hatshepsut, là chị cùng cha khác mẹ của ông, đã
cầm quyền phụ chánh trong 20 năm đầu đời trị vì của ông. Dầu ông khinh dể bà nầy, nhưng
bà đã hoàn toàn cai trị ông. Sau khi bà qua đời, thì ông một mình trị vì 30 năm. Ông là người
chinh phục oai hùng nhứt trong lịch sử Ai-cập. Ông khắc phục xứ Ê-thi-ô-bi, cai trị đến tận
miền sông Ơ-phơ-rát, tiến đánh xứ Pa-lét-tin và Sy-ri 17 lần. Ông đã tổ chức Hải quân. Ông đã
thâu trữ rất nhiều của cải và thực hiện nhiều công trình kiến trúc vĩ đại. Ông ghi công nghiệp
của mình rất tỉ mỉ trên các bức tường và đài kỷ niệm. Lăng tẩm ông ở tại thành Thèbes, và xác
ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire (Ai-cập). Nhiều người cho rằng ông là vua đã
hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên. Nếu vậy, thì hoàng hậu Hatshepsut trứ danh chính là con gái Pha-ra-
ôn đã cứu vớt, trưởng dưỡng Môi-se, và trở nên người bạn oai quyền của Môi-se.
Hatshepsut Con gái của Thothmes đệ nhứt. Làm phụ chánh cho em cùng cha khác mẹ và
chồng của mình, là Thothmes đệ nhị, và cho em cùng cha khác mẹ của mình là Thothmes đệ
tam trong 20 đầu đời trị vì của vua nầy. Bà là hoàng hậu trứ danh đầu tiên trong lịch sử. Bà là
bậc phụ nữ rất có tiếng tăm, là một trong những người cai trị nước Ai-cập oai hùng hơn hết.
Ðã cho tạc nhiều tượng hình dung mình như một bậc trượng phu. Mở mang đế quốc. Xây cất
nhiều đài kỷ niệm, hai tháp lớn tại Karnak, và miễu thờ đồ sộ tại Deir El Bahri trong đó có bày
nhiều tượng của bà. Thothmes đệ tam ghét bà, và khi bà qua đời, một trong những hành động
đầu tiên của ông là bôi xóa tên bà khỏi mọi đài kỷ niệm và hủy phá hết tượng của bà. Những
tượng của bà ở Bahri bị đập ra từng mảnh, quăng vào một hầm đá gần đó. Tại đây, nó bị cát
bay phủ kín, và mới đây, nhơn viên Bảo-tàng-viện Thủ đô đã tìm được những mảnh tượng
nầy.
Amenhotep đệ nhị 1450 T.C Nhiều học giả cho ông nầy là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-
ra-ên ra khỏi Ai-cập. Ông duy trì đế quốc do Thothmes đệ tam sáng lập. Xác ướp của ông ở

phương Nam xa xôi đem về, và cũng của giai cấp cần lao bổn quốc. Những bọn người nầy làm
lụng khó nhọc tại hầm đá hoặc lò gạch, hoặc kéo tảng đá lớn trên đất mềm.
Merneptah 1235 T.C., có người tưởng ông nầy là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi Ai-cập. Xác ướp của ông ở tại kinh thành Le Caire. Phòng thiết triều của ông tại thành
Mem-phi (Ô-sê 9:6) đã do phái đoàn của Bảo tàng viện Ðại học đường Pennsylvania phám phá
được.
Arnenmeses, Siptah, Seti đệ nhị Ba vua nhu nhược.
Đế quốc Ai Cập (P2)
Ai là Pha-ra-ôn trong sách Xuất Ê-díp-tô ký?
Có hai ý kiến đáng kể hơn hết:
Amenhotep đệ nhị (1450-1430 T.C.), hoặc Merneptah (1235-1220 T.C.).
Nếu dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, thì Thothmes đệ tam
là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên rất tàn khốc, còn chị của ông lại trưởng dưỡng Môi-se. Người
chị nầy chính là hoàng hậu Hatshepsut trứ danh. Những thực sự trong đời trị vì của bà ăn hiệp
với truyện tích Kinh Thánh một cách lạ lùng dường nào! Bà chú ý đến các mỏ ở vùng Si-na-i,
và đã trùng tu miễu thờ ở Serabit mà Môi-se có lẽ đã xem thấy khi ông có cơ hội làm quen với
vùng Si-na-i nầy. Lại nữa, khi Môi-se sanh ra, thì Thothmes đệ tam còn thơ ấu, và Hatshepsut
làm phụ chánh. Ðến khi bà qua đời, thì dân Y-sơ-ra-ên càng bị hà hiếp tàn khốc hơn, và Môi-
se chạy trốn. Mấy điều nầy cũng giải thích một phần nào cái uy tín của Môi-se tại Ai-cập.
Nếu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Merneptah, thì Ramsès đệ nhị là vua đã
hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên rất tàn khốc, còn con gái ông đã trưởng dưỡng Môi-se.
Như vậy, Môi-se đã được trưởng dưỡng hoặc dưới đời trị vì của Thothmes đệ tam, hoặc dưới
đời trị vì của Ramsès đệ nhị, cả hai ông nầy đứng trong hàng các vua danh tiếng nhứt Ai-
cập.
Và Môi-se đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập hoặc dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị,
hoặc dười đời trị vì của Merneptah.
Dầu sao đi nữa, người ta cũng đã tìm được xác ướp của cả bốn vua nầy. Vậy, bây giờ ta có thể
thấy bộ mặt thực của Pha-ra-ôn đương thời Môi-se, với chính Pha-ra-ôn đó, Môi-se đã có
liên quan rất mật thiết.
Khám phá được các xác ướp

"Dòng dõi nó không còn nữa" có thể chỉ về sự tiêu diệt những con trai nhỏ tuổi. Vì các vua thời
xưa không hề chép việc chi trừ ra những cuộc chiến thắng của mình, nên sự thực có lẽ là như
vầy: Dầu cố hết sức ngăn cản dân Y-sơ-ra-ên ra đi không được, nhưng ông cũng ghi chép sự
họ ra đi khỏi Ai-cập như là mình đã thắng dân ấy.
Các học giả đã quyết đoán dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập nhằm niên hiệu sớm hơn, thì cho
rằng ký văn nầy ngụ ý nói đến việc Merneptah xâm lăng xứ Pa-lét-tin chừng 200 năm sau khi
dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong xứ Ca-na-an .
2. Ramsès đệ nhị tự nhận rằng mình đã xây cất hai thành Phi-thom và Ram-se với nhơn công
Y-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô ký 1:11).
Năm 1883, ông Naville đã tìm ra vị trí thành Phi-thom. Trên cổng thành, ông thấy một bi văn
của Ramsès đệ nhị: "Ta đã xây thành Phi-thom ở cửa phía Ðông của sông Ni-lơ."
Ông tìm thấy một tòa nhà có tường dày phi thường, trên gạch có khắc tên Ramsès đệ nhị. Chỉ
có một lối vào do mái nhà. Ðây là những kho tàng mà dân Y-sơ-ra-ên đã xây cất.
Năm 1905, ông Petrie tìm ra vị trí thành Ram-se. Năm 1922, tại thành Bết-san (I Sa-mu-ên
31:10), thuộc xứ Pa-lét-tin, ông Fisher, nhơn viên Bảo-tàng-viện Ðại học đường Pennsylvania,
đã tìm thấy một tấm bia của Ramsès đệ nhị, cao chừng 2 thước rưỡi, rộng chừng 80 phân,
trên đó ghi khắc rằng ông "xây cất thành Rase với nhơn công của bọn tôi mọi Sémitique thuộc
Á-châu (Hê-bơ-rơ)."
Như vậy, hai bi văn nầy chỉ rõ Ramsès đệ nhị là Pha-ra-ôn đã truyền xây cất hai thành nầy
cho mình, và là kẻ đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên; và như vậy, cũng chỉ rõ người kế vị ông, là
Merneptah, chính là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Tuy nhiên, người ta
biết rằng Ramsès đệ nhị là một tay hay sang đoạt, đã nhận một số đài kỷ niệm của các vị tiên
đế là của mình, và truyền ghi khắc tên mình trên những đài kỷ niệm ấy. Các nhà học giả chấp
nhận niên hiệu sớm hơn của việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và chấp nhận Thothmes đệ
tam là vua đã xây cất hai thành nầy, đều cho các bi văn trên đây có nghĩa là Ramsès đệ nhị
đã xây cất lại hoặc sửa chữa hai thành nầy với công lao của những người Hê-bơ-rơ không cùng
ra đi với Môi-se.
Về đại cương, chúng tôi nghĩ rằng các bằng cớ chứng rõ hơn rằng Amenhotep đệ nhị chính là
Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập.
Di tích thành Thèbes

Số liệu thực tế
Giai đoạn I: Xây dựng khoảng năm 300 TCN đến năm thứ nhất sau Công nguyên, trên một
móng thấp nằm ngay phía trên phòng trong của hang, móng khác nhỏ hơn ở hướng tây phía
trên và ở phía đông lối vào hang.
Giai đoạn II: Kim tự tháp đầu tiên xây dựng vào khoảng năm thứ 100. Mỗi cạnh đáy khoảng
184 m, chiều cao khoảng 46 m.
Giai đoạn III: Kim tự tháp sau cùng được hoàn thành khoảng năm 50-225 sau CN. Mỗi cạnh
đáy khoảng 226 m, chiều cao khoảng 75 m kể cả ngôi đền trên đỉnh đã bị tàn phá.

Teotihuacan trong thiên nhiên kỷ 1 TCN chỉ là một trong hai thành phố thịnh vượng thuộc
thung lũng Mexico, mỗi thành phố đều nằm trong vùng đồng bằng tựa lưng vào núi. Một vài
trăm năm TCN, Teotihuacan lâm vào tình thế hiểm nghèo, sau cùng chôn vùi thành phố này
dưới dòng dung nham.
Dân tị nạn tìm thấy một quê hương mới ở Teotihuacan, nơi họ cùng con cháu tiếp tục xây
dựng các công trình lớn nhất Mexico cổ đại. Đó là hai kim tự tháp khổng lồ (kim tự tháp "Mặt
trời" và "Mặt trăng"), một đường đắp cao đồ sộ để hành lễ ("Đại lộ tử thần"), một tập hợp các
phức hợp khổng lồ ("Ciudadela", hay Thành lũy, khu "Đại phức hợp") và sau cùng các ngôi nhà
của chính họ cùng các khu phức hợp căn hộ.
Vì thế, thành phố Teotihuacan phát triển bao quanh Kim tự tháp Mặt trời với mạng lưới đô thị
có dân định cư chiếm diện tích 20 km², dân số hơn 100.000 người.
Hình vẽ núi và hang động của Teotihuacan
Giới học giả cho rằng dân tị nạn tự nguyện xây dựng hai công trình này, do các nhà cai trị
Teotihuacan giám sát, và để phục vụ các vị thần linh thiêng của thành phố. Họ cũng cho rằng
phong cảnh đầy rẫy thần linh, ắt hẳn dân tị nạn xem núi và hang động cũng là nơi linh thiêng,
đầy uy lực, trong khi thung lũng Teotihuacan là sự liên kết thuận lợi của các đặc tính này.
Ngay trung tâm thành phố tương lai, một hang động hướng mặt về phía Tây, hướng mặt trời
lặn dựa vào những ngày quan trọng về nông nghiệp và thiên văn nào đó. Trên hang người ta
xây dựng một ngôi đền vào thế kỷ 1 TCN vốn là công trình lâu đời nhất nằm ở địa điểm Kim tự
tháp Mặt trời, gồm nhiều mô đất lớn phía trên lối vào hang và phòng bên trong hang.
Đứng ở lối vào hang, nhìn về hướng Bắc, vuông góc với tầm nhìn phía Tây, có thể nhìn thấy

chất tự nhiên, nhưng thực ra, những mỏ đá sau này sử dụng cho các mục đích hành lễ là hang
động linh thiêng nằm bên dưới Kim tự tháp Mặt trời đã được gọt đẽo và độn đầy công phu.
Để vận chuyển vật liệu xây dựng, các nhà cai trị và quy hoạch sử dụng dân số đang gia tăng
của thành phố Teotihuacan, những người làm việc tích cực nhất ở các thời điểm trong năm khi
rỗi việc canh tác dựa trên hệ thống thủy lợi kéo dài từ thành phố xuống tận hồ.
Nếu ước tính thật chi tiết rằng, một người lớn thông thường có thể tham gia công trình 100
ngày mỗi năm, dân số thành phố vào thời điểm khoảng 100 sau CN là 100.000 người, thì họ
phải góp thêm hàng triệu ngày công mỗi năm, vận chuyển vật liệu bằng thúng và thực hiện
các công việc khác.
Như vậy, việc xây dựng Kim tự tháp mặt trời mất bao lâu? Nếu thử tính toán thể tích kim tự
tháp hơn 1 triệu m3, khoảng 30 triệu thúng, mỗi công nhân mỗi ngày đi năm chuyến từ mỏ đá
đến công trường, cần đến 6 triệu ngày công, có nghĩa 6.000 công nhân hoàn tất công trình
trong 10 năm.
Toàn bộ bề mặt 50.000 m2 được trát vữa, lớp đầu bằng bùn và sỏi núi lửa, sau cùng là lớp vữa
đá vôi từ các thung lũng gần đó. Việc xử lý vôi ngốn hết toàn bộ các khu rừng và vì không thể
thay đổi điều kiện sinh thái trong thung lũng nên sự xói mòn ngày nay vẫn còn nhìn thấy.
Các nhà cai trị thành phố hoàn tất Kim tự tháp Mặt trời với ngôi đền (hay nhiều đền) trên đỉnh
rộng và thiết kế lại phần nền phía trên lối vào hang. Sự bổ sung này mang đến cách thiết kế
kiến trúc dễ phân biệt, trở thành dấu ấn kiến trúc của Teotihuacan: vách tấm móng gồm nhiều
pa-nô dài nằm ngang trên đỉnh các móng nghiêng, gọi là kiểu talud-rablero, không tìm thấy ở
Kim tự tháp Mặt trời.
Sau khi hoàn tất Kim tự tháp Mặt trời, công trình chấm dứt để tu bổ thêm phần trung tâm nghi
lễ dân sự trong thành phố. Truyền thống ban đầu của các nhà cầm quyền Teotihuacan đầy
quyền năng đã mở đường cho một phong cách lãnh đạo mang tính tập thể nhiều hơn, có lẽ là
đại biểu cư dân trong các khu phức hợp căn hộ, vẫn còn người ở trong 400-500 năm sau.
Người lùn Munayi
Năm 1837, ở gần thị trấn Cosaoke của Bang Ohio - Mỹ, người ta đã phát hiện thấy mộ địa của
người lùn. Hài cốt được phát hiện ở đây đều cao không đến 90cm. Nhưng do gần nơi mai táng
không hề phát hiện được bất cứ văn vật nào nên các nhà khảo cổ đã gặp nhiều khó khăn trong
việc xác định nền văn hóa và niên đại sống của những người lùn này. Tuy nhiên, từ số lượng

Hammurabi, nhưng nó đã tấn triển mau lẹ hơn tại Ai-cập, dưới 12 triều đại đầu tiên, bao gồm
thời kỳ giữa nạn nước lụt và Áp-ra-ham.
31 triều đại của Manetho. Manetho, người Ai-cập, khoảng 250 năm T.C., đã chép lịch sử Ai-
cập, sắp đặt thành 31 triều đại, từ Menes, vua đầu tiên trong lịch sử, đến khi A-lịch-sơn đại
đế, vua Hy-lạp chinh phục Ai-cập, năm 332 T.C Cho tới ngày nay, người ta vẫn thừa nhận
lịch sử Ai-cập thời xưa gồm 31 triều đại; về đại cương, các sự khám phá của khảo cổ học đã
xác chứng thật có 31 triều đại ấy.
Thoạt tiên, Ai-cập gồm một số nhóm gia tộc, hoặc bộ lạc nhỏ, mỗi nhóm gọi là một "nước." Họ
có thời kỳ "tiền sử," nghĩa là một thời kỳ trước khi ghi chép những biến cố thời nay, duy có
những thần, á thần và vua sống lâu trong thời nguyên thủy. Họ biết dùng vàng, bạc, đồng, chì
và đá lửa. Họ có chữ viết và biết đóng tàu.
Ba thời kỳ trọng đại của lịch sử Ai-cập là:
Nước thời cổ: Triều đại thứ 3 tới triều đại thứ 6. Kỷ nguyên xây cất Kim tự tháp. Theo nhiều ý
kiến khác nhau, các triều đại nầy ở vào những khoảng giữa 4000 năm T.C. tới 2000 năm T.C.;
nhưng thường thì cho là vào khoảng 2700 năm T.C
Nước khoảng giữa: Triều đại thứ 11 và 12. Kỷ nguyên đào kinh. Ðây là một thời kỳ rất thạnh
vượng. Khoảng 2000 năm T.C. Thời Áp-ra-ham.
Thời kỳ đế quốc: Triều đại 18 và 19. 1600-1200 T.C. Ðế quốc thứ nhứt cầm quyền cả thế giới
mà người ta biết hồi đó. Cai trị từ xứ Ê-thi-ô-bi đến sông Ơ-phơ-rát. Ðây là thời kỳ dân Y-sơ-
ra-ên kiều ngụ tại Ai-cập.
Niên biểu Ai-cập đã được thành lập khá đúng từ năm 1600 T.C.; nhưng trước đó, thì rất mơ
hồ. Vậy, các nhà Ai-cập-học chỉ định khác nhau về niên hiệu của Menes, vua thứ nhứt của thời
kỳ lịch sử, như sau nầy: Petrie, 5500 T.C.; Mariette, 5000; Brugsch, 4500; Chabas, 4000;
Lepsius, 3900; Bunsen 3600; Hall, 3500; Breasted 3400; Barton 3400; Meyer 3300; Scharff,
3000; Poole 2700; G. Rawlinson 2450; Wilkinson 2320; Sharpe 2000. Như vậy, ta có thể thấy
rằng Petrie và Breasted, là hai nhà Ai-cập-học trứ danh nhứt, sai biệt nhau tới hơn 2000 năm
đối với khởi điểm của lịch sử Ai-cập. Hai ông nầy cũng sai biệt nhau cả ngàn năm về niên hiệu
của các Kim tự tháp, và 700 năm về thời kỳ các Hyksos (dòng vua trị vì đương thời dân Do-
thái kiều ngụ tại Ai-cập). Ngày nay người ta có khuynh hướng hạ thấp các niên hiệu trong niên
biểu Ai-cập và Ba-by-lôn, cho rằng Kim tự tháp Lớn được xây cất khoảng 2400 hoặc 2500 năm

Chéops (Khufu), Khafre (Cephren), Menkure (Menkaura) tại Gizeh, cách kinh thành Le Caire 8
dặm về phía Tây. Lớn nhứt là Kim tự tháp của Chéops, một trong những vua hùng mạnh nhứt
của Ai-cập. Rồi tới Kim tự tháp của Khafre, có khắc tượng nhân sư (sphinx) mà mặt là chính
mặt ông. Còn trong Kim tự tháp của Menkure thì người ta tìm thấy chính xác ướp của ông.
Triều đại thứ năm 9 vua. Tiếp tục khai mỏ ở vùng Si-na-i. Cử các phái đoàn thương mại
vượt Ðịa trung hải, tới các xứ Phê-ni-xi, Sy-ri và Ô-phia (ICác Vua 9:28).
Người Ai-cập rất mạnh tin có đời sau. Ở vườn phía Tây Kim tự tháp của hoàng hậu Khent-
Kawes, thuộc triều đại thứ 5, người ta đã thấy một chiếc tàu dài chừng 36 thước, ngang chừng
5 thước, mà bà đã cho khắc sâu vào đá để chở linh hồn bà qua thế giới bên kia. Lăng tẩm của
các Pha-ra-ôn (vua Ai-cập) chứa nhiều vật báu của thế giới nầy mà họ tưởng có thể đem theo
qua thế giới bên kia.
Triều đại thứ sáu 6 vua. Nước thời cổ chấm dứt. Pepi đệ nhị, vua thứ năm, trị vì 90 năm; đó
là đời trị vì lâu dài nhứt trong lịch sử.
Các triều đại thứ bảy, tám, chín, mười 20 vua. Thời kỳ phân tán; nhiều nước giao tranh với
nhau.
Triều đại thứ mười một 7 vua. Khởi đầu nước hùng mạnh ở khoảng giữa; nước nầy tồn tại
suốt triều đại thứ 12.
Triều đại thứ mười hai 8 vua. Amenembet đệ tam xây cất miễu thờ Serabit tại vùng Si-na-i;
tại đây, Petrie mới tìm thấy lối viết có chữ cái cổ nhứt thế giới. Có nhiều cuộc giao dịch với xứ
Sy-ri. Ðào một con kinh từ sông Ni-lơ tới Hồng hải. Senusert đệ nhứt xây tháp hình chóp
(obélisque) tại thành Ôn (Sáng thế ký 41:45), đến nay vẫn còn. Người ta thường nghĩ rằng
Senusert đệ nhị chính là Pha-ra-ôn khi Áp-ra-ham ghé thăm Ai-cập.
Các kim tự tháp Ai-cập không giống những miễu tháp Ba-by-lôn, vì trên chót những miễu tháp
nầy có xây nơi thờ lạy các thần; còn Kim tự tháp chỉ là mộ phần cốt để vĩnh cửu hóa vinh
quang của các Pha-ra-ôn đã xây cất nó. Sự ham mê Kim tự tháp bắt đầu từ triều đại thứ nhứt,
và tới triều đại thứ tư thì lên đến cực độ.
Kim tự tháp lớn của Chéops Ðây là công trình kiến trúc vĩ đại nhứt của các thời đại. Chiếm
một khoảng hơn 5 mẫu tây và cao chừng 155 thước tây (nay còn chừng 145 thước). Tính
phỏng để xây cất nó, phải dùng 2.300.000 phiến đá, mỗi phiến dày đổ đồng gần 1 thước tây
và cân nặng đổ đồng 2 tấn rưỡi. Xây bằng nhiều lớp phiến đá vôi đẽo sơ sài, ngoài cùng là lớp

Một thung lũng rộng từ 2 đến 30 dặm, và rộng trung bình chừng 10 dặm, bề dài 750 dặm; có
sông Ni-lơ chảy từ Aswan tới Ðịa-trung-hải, qua đầu phía đông của sa mạc Sahara, mỗi bên
đều có một cao nguyên hoang vu, cao chừng 310 thước.
Ðáy thung lũng có phù sa đen rất tốt lắng xuống đóng kín, từ cao nguyên xứ A-bít-si-ni đổ
xuống; phù sa nầy phì nhiêu vô song, và luôn luôn đổi mới vì sông Ni-lơ tràn lút hằng năm.
Thung lũng nầy được dẫn thủy nhập điền từ lúc khởi đầu lịch sử, do một hệ thống kinh đào
cùng hồ chứa nước rộng lớn và kỹ xảo. Ðập Aswan, do người Anh xây ít lâu nay, hiện chế ngự
sự tràn lụt của sông Ni-lơ, và nạn đói chỉ là chuyện quá khứ.
"Ai-cập được sa mạc bao quanh, cô lập hóa và che chở; tại đây, đại đế quốc thứ nhứt trong
lịch sử đã được phát triển; cũng tại đây, những chứng cớ của nền văn minh thượng cổ đã được
bảo tồn hơn nơi nào hết."
Ngày nay, dân số chừng 16 triệu; đương thời đế quốc La-mã, dân số có 7 triệu; đương thời
dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ, có lẽ cũng chừng đó hoặc kém.
Trung châu là một hình tam giác, và là nơi cửa sông Ni-lơ mở rộng. Miền nầy đo được chừng
100 dặm từ Bắc tới Nam, và chừng 150 dặm từ Ðông tới Tây, tức là từ Port Said tới
Alexandrie. Ðây là miền phì nhiêu nhứt nước Ai-cập, xứ Gô-sen, trung tâm cư trú chính của
người Y-sơ-ra-ên, là phần phía Ðông của trung châu nầy.
La Mã Cổ Đại
La Mã cổ đại là một nền văn minh đã từng tồn tại ở châu Âu, Bắc Phi, và Trung Đông từ năm
753 trước C.N. và sụp đổ vào năm 476 sau C.N Trong nhiều thế kỉ, người La Mã kiểm soát
toàn bộ Tây Âu và tất cả vùng lãnh thổ bao quanh biển Địa Trung Hải và một số vùng đất bao
quanh Biển Đen
Thời kì Quân chủ
Thành phố Rome phát triển từ những khu định cư trên và xung quanh đồi Palatine, xấp xỉ
mười tám dặm từ biển Tyrrhenia (một phần của biển Địa Trung Hải) trên dòng sông Tiber. Tại
vị trí này sông Tiber có một hòn đảo mà ở đó có thể lội qua sông. Do dòng sông và chỗ cạn,
Rome ở vị trí quyết định đối với giao thông và buôn bán. Trong truyền thuyết của người La Mã,
Rome được xây dựng bởi Romulus vào ngày 21 tháng 4 năm 753 trước C.N. Romulus, người
mà tên đã được coi là sinh ra tên của thành Rome, là người đầu tiên trong 7 vị vua của Rome
mà người cuối cùng là Tarquin Kiêu hãnh bị phế truất vào năm 510 hay 509 trước C.N khi La

tách biệt giữa Caesar và Hội đồng Nguyên lão đã dẫn tới nội chiến, với Pompey dẫn đầu lực
lượng của Hội đồng. Caesar chiến thắng và được phong làm nhà độc tài suốt đời sau khi từ
chối tước hiệu quốc vương . Tuy nhiên, ông ta chiếm lấy quá nhiều quyền lực quá nhanh đối
với một vài thượng nghị sĩ, và bị ám sát trong một âm mưu được tổ chức bởi Brutus và Cassius
vào ngày 15 tháng 3 năm 44 T.C.N. Một chế độ Tam hùng thứ 2, bao gồm người thừa kế đã
được chỉ định của Ceasar Octavian và những cựu trợ thần Mark Antony và Marcus Aemilius
Lepidus, lên nắm quyền, nhưng những thành viên của nó nhanh chóng rơi vào một cuộc đấu
tranh giành quyền thống trị. Trong nỗ lực cuối giành chính quyền Cộng hoà, Octavian đánh bại
Antony tại trận chiến Actium vào năm 31 T.C.N và thôn tính những vùng lãnh thổ của
Cleopatra, người vợ phương Đông( và ở Rome, bị khinh miệt) của Antony. Octavian giữ lại Ai
Cập như là thuộc địa không chính thức của nhà vua, bảo đảm một thu nhập để lấy lòng những
cư dân thủ đô. Giờ đây ông ta nắm lấy quyền lực gần như tuyệt đối với tư cách là thống soái
quân sư, người bảo vệ duy nhất của quần chúng, và quyền lực tối cao trên lãnh thổ La Mã, và
lấy tên Augustus. Những xác lập hiến pháp trên (đã biến Rome từ một nước cộng hoà thành
một đế quốc. Người kế vị được chỉ định của Augustus, Tiberius, lên nắm quyền mà không có
cuộc đổ máu nào (thậm chí còn không có nhiều sự kháng cự), và như vậy đã hoàn thành công
trình của ông.
Thời kì Đế quốc
Trong thời kì Đế quốc, La Mã đối đầu những cuộc xâm lược của “người dã man” và những khó
khăn khác. Để đối phó tốt hơn với nhiệm vụ giữ cả đế chế lại với nhau, hoàng đế bắt đầu chỉ
định các tướng trấn giữ các vùng, làm xuất hiện các quyền lựa tập trung chia La Mã thành 2
phần Đông và Tây
Sụp đổ
Theo Edward Gibbon, Đế quốc La Mã đã không chống cự được cuộc xâm lược của người dã
man do sự mất lòng tin đối với các cư dân. Họ đã trở nên lười biếng và uỷ mị, giao phó nghĩa
vụ bảo vệ Đế chế của họ cho bọn lính đánh thuê người dã man. Vai trò của lực lượng quân đội
người dã man trở nên dày đặc và ăn sâu đến nỗi họ có thể dễ dàng vượt mặt Đế chế. Những
người La Mã, Gibbon nói, đã trở thành ẻo lả như phụ nữ và không muốn sống theo kiểu quân
sự. Thêm vào đó, Gibbon cũng ám chỉ vai trò của Thiên chúa giáo trong sự sụp đổ của Rome.
Thiên chúa giáo, ông nói, đã tạo ra niềm tin vào một thế giới khác và gợi ý rằng có một cuộc


Hình ảnh tái tạo thành phố Atlantis theo mô tả của Plato.
Nếu lời giải thích thứ hai là đúng, thì một trong những cấu trúc chữ nhật trên "đảo" hầu như
khớp hoàn toàn với kích thước của đền thờ Poseidon trong tài liệu của Plato.
Những cấu trúc này được nhận ra đầu tiên bởi Werner Wickboldt, một nhà văn và là một người
say mê Atlantis, từng nghiên cứu ảnh chụp trên khắp vùng Địa Trung Hải để tìm kiếm vết tích
của thành phố mà Plato ghi lại. "Đây là địa điểm duy nhất dường như phù hợp với mô tả của
Plato", ông nhận định. Wickboldt cũng bổ sung rằng người Hy Lạp có lẽ đã nhầm lẫn một từ Ai
Cập cổ để chỉ bờ biển với một từ có nghĩa "hòn đảo" trong quá trình chuyển ngữ câu chuyện
về thành phố Atlantis.
Ngoài ra, Plato cũng đề cập tới một đồng bằng thuộc Atlantis. Tiến sĩ Kuehne cho biết đó có
thể là đồng bằng mở rộng ngày nay từ bờ biển phía nam Tây Ban Nha tới thành phố Seville.
Những vùng núi cao mà học giả Hy Lạp nói tới có thể là vùng Sierra Morena và Sierra Nevada.
"Plato viết rằng Atlantis rất giàu đồng đỏ và các kim loại khác, trong khi quả thực đồng đỏ
xuất hiện rất nhiều trong các mỏ quặng của vùng Sierra Morena", ông nói thêm.
Kuehne cũng nhận thấy cuộc chiến tranh giữa thành Atlantis và các vùng phía đông Địa Trung
Hải theo mô tả của Plato gần giống với cuộc tấn công vào Ai Cập, Cyprus và vùng cận đông
trong thế kỷ 12 trước Công nguyên, do những kẻ xâm lược bí hiểm còn được gọi là Người từ
biển thực hiện. Từ đó, ông giả thuyết rằng người Atlantis và Người từ biển thực chất là một.
Nếu điều đó là đúng, thì thành phố và xã hội Atlantis có thể trùng với nền văn hoá Tartessos
thời kỳ đồ Sắt ở vùng phía nam Tây Ban Nha, hoặc với một nền văn hoá đồ Đồng khác chưa
được biết tới.
Truyền thuyết về Atlantis đã ăn sâu vào trí tưởng tượng của các học giả trong nhiều thế kỷ.
Tài liệu sớm nhất về vùng đất hư ảo này dường như xuất hiện trong các cuốn sách của Plato
về Critias và Timaios. Mô tả của ông về một vùng đất giàu có đến khó tin, tuyệt đẹp và có nền
văn minh tiến bộ cao đã thu hút nhiều nhà thám hiểm cất công tìm kiếm vị trí của nó. Một giả
thuyết gần đây cho rằng Atlantis chính là hòn đảo Spartel, một bãi bùn nông trong eo biển
Gibraltar đã chìm xuống biển khoảng 11.000 năm trước.
Vì sao đế quốc La Mã bị tiêu diệt? (P1)


phụ nữ La Mã dần dà thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình. Hiện tượng ngoại tình và đời sống
tình dục của họ cũng phóng khoáng không thua đàn ông. Trước đấy người phụ nữ không có
quyền ly hôn, nhưng bây giờ họ có thể ly hôn với bất kỳ lý do nào. Đến nỗi một nhà thơ đương
thời đã mỉa mai:
Trong 5 mùa đông
Nàng thay đến 8 chồng
Và tự hào muốn khắc kỳ công lên bia mộ!
Sự lỏng lẻo của gia đình khiến các ông chồng cực kỳ bất mãn. Vì thế hoàng đế Augustus đã
ban bố pháp lệnh: Nếu phát hiện vợ tư thông, người chồng phải ly hôn, nếu không sẽ bị
nghiêm trị. Theo điều luật này, "dâm phụ" sẽ bị lưu đày đến một hòn đảo không có dấu chân
người và không có quyền tái hôn. Còn "dâm phu" phải lưu đày đến một hòn đảo khác. Thậm
chí đàn ông có vợ dan díu với kỹ nữ chưa đăng ký vẫn bị kết tội. Vì thế, số kỹ nữ đến đăng ký
tăng vọt lên, đến nỗi nhiều danh môn quý phụ cũng xin đăng ký làm kỹ nữ!
Khởi đầu sự phá sản
Vào thời kỳ cuối của chế độ Cộng hòa, kịch viện và đấu trường phát triển rộng rãi ở La Mã
khiến điều kiện gặp gỡ nam nữ dễ dàng hơn. Ở những sân khấu ngoài trời, trai gái có thể ngồi
lẫn lộn để xem kịch hoặc đấu vật. Đây là điều kiện thuận lợi để tình yêu nảy nở tự do.
Vào thời viễn cổ, người La Mã ít bàn về văn hóa do họ dồn hết tinh lực vào chiến tranh. Vì thế
họ thích nói về kỷ luật, trách nhiệm, hơn là về tính văn hóa. Nhưng khi đại đế quốc La Mã kiến
lập, người La Mã trở thành ông chủ của nhiều tài sản kếch xù và các nô lệ, cuộc sống xa hoa
đã làm họ thay đổi. Ý thức về "tính" cũng biến dạng. Để thấy rõ sự chuyển hóa này, chúng ta
có thể khảo sát sự sùng bái các vị thần của người La Mã. Đầu tiên họ sùng bái những hình
tượng lạnh lùng, nghiêm túc, biểu trưng cho đạo đức trừu tượng có ý nghĩa bảo vệ người La
Mã. Tiêu biểu nhất là nữ thần lửa bếp - người bảo vệ cho sự thịnh vượng quốc gia và sự bình
yên của gia đình. Trong nhiều tác phẩm điêu khắc cổ La Mã, vị nữ thần này được tạo hình rất
đoan trang, tư thế chính trực mặc dù hoàn toàn khỏa thân.
Để thờ phụng vị nữ thần, người ta lựa chọn 6 trinh nữ từ những gia đình quyền quý. Từ lúc lên
mười, 6 thiếu nữ trên được đưa vào đền để tuyệt đối hiến thân cho nghi thức thuần túy tôn
giáo trong 30 năm. Đạo đức của những nữ tế nhân được coi là bảo chứng thiêng liêng về sự
hưng vượng của quốc gia.

Khoả thân là mốt của người La Mã cổ đại mà biểu hiện rõ nhất là nhà tắm công cộng. Với lý do
tắm gội, họ thoải mái cởi bỏ trang phục trước mắt mọi người không chút e ngại. Thậm chí phụ
nữ La Mã còn cho phép nam nô lệ thoa dầu, massage thân thể. Đôi khi họ cũng đồng ý cho
những nô lệ của mình khỏa thân và tiến hành "tính giao". Không phải chỉ khỏa thân trong gia
đình, nơi nhà tắm, người La Mã còn buôn bán nô lệ khỏa thân. Nói chính xác hơn, khi mua bán
nô lệ nơi quảng trường, người La Mã cho họ thoát y toàn thân để tiện việc lựa chọn. Trong
những thành thị lớn ở La Mã cổ đại, hầu như ngày nào cũng diễn ra cảnh mua bán như thế.
Bất kể ở điều kiện thời tiết nào, người nô lệ da đen bị đem bày bán cũng hoàn toàn khoả thân.
Họ đứng trên một "khán đài chuyển động" để người mua có thể dễ dàng quan sát, sờ mó, định
giá, trả giá.
Số nô lệ ở La Mã rất nhiều. Trong thành phố, cứ khoảng 3 cư dân lại có 1 nô lệ. Con số nô lệ
còn cao hơn nhiều lần ở khu vực ngoại thành. Trong các gia đình La Mã, nam chủ nhân chiếm
hữu nô lệ như công cụ lao động; nữ chủ nhân biến nam nô lệ thành công cụ hưởng lạc. Hình
ảnh về sự phóng túng của tính dục lan tràn khắp xã hội. Trước khi kết hôn, hầu như cô gái nào
cũng đã từng "tận hưởng" với nô lệ của mình.
Đề phòng việc mang thai, phụ nữ quý tộc yêu cầu nô lệ phải chấp nhận một số hình thức
thiến, hoặc thực hành các hình thức giao hoan mà không gây "hậu quả". Để giữ bí mật cho
mình, phụ nữ La Mã còn bắt những nam nô lệ tình dục phải chịu cảnh bị chọc cho mù mắt.
Tại La Mã cổ đại, thoát y vũ là thú tiêu khiển phổ biến. Cách thoát y của các cô gái La Mã rất
nhẹ nhàng, đôi khi họ chỉ cần di chuyển ngược chiều, y phục sẽ tự động rơi xuống. Kịch trường
La Mã cũng rất phóng khoáng, có thể diễn bất kỳ tác phẩm khêu gợi nào. Mô thức cố định của
kịch là cảnh bắt quả tang cô gái khỏa thân. Bất kỳ nam hay nữ diễn viên đều có thể tùy hứng
biểu diễn những động tác kích thích dục tính. Tuy vậy, trong lĩnh vực kịch nghệ, địa vị của nữ
diễn viên vẫn rất thấp so với nam diễn viên, tương tự vị trí của kỹ nữ, gái bán bar ngoài xã
hội.
Ngoài việc phóng túng nơi kịch trường, người La Mã cổ đại còn có cách thể hiện tính dục nơi
đấu trường. Ví dụ ở các võ trường giác đấu, khán giả có thể xem những tay tử tù biểu diễn
cảnh thần Athis bị thiến đầy máu me, hay cảnh thần Mythi thoát y. Khi Cơ đốc giáo bị bức hại,
nhiều nữ tín đồ đã bị ép đến đấu trường biểu diễn. Trước mắt 2 vạn khán giả, bọ bắt buộc phải
thoát y để giác đấu với bò tót

đã ăn sâu vào đời sống người La Mã. Nhiều người rất sợ có con, và họ dùng biện pháp tránh
thai. Mặt khác, dân số La Mã giảm thiểu còn có một nguyên nhân căn bản nữa, đó là đại đa số
đàn ông La Mã mất khả năng có con, và phụ nữ mắc chứng vô sinh. Có thể kể 3 nguyên nhân
chính sau:
Một là ẩm tửu quá độ. Rượu có thể kích thích tính dục, nhưng lại chế ngự khả năng sinh sản.
Một điều tra mới nhất cho thấy, trong 14.000 người nghiện rượu nặng, có tới 1.400 người hoàn
toàn mất khả năng sinh con. Người La Mã nổi tiếng là dân tộc "túng tửu cuồng hoan", nhiều
người đàn ông có thói quen uống rượu tại nhà tắm công cộng từ trưa hôm trước đến tận ngày
hôm sau.
Hai là tắm gội quá mức. Nhà tắm công cộng La Mã nổi tiếng không phải là nơi tắm đơn thuần
mà còn là không gian giao tiếp xã hội. Đàn ông La Mã thường có mặt hàng ngày tại địa điểm
này, và đôi khi họ tắm từ nửa ngày đến cả ngày. Nghiên cứu cho thấy, việc ngâm mình quá
lâu trong nước nóng làm hạn chế việc sản sinh tinh trùng, ảnh hưởng đến khả năng sinh nở.
Nhiệt độ bình thường của dịch hoàn thấp hơn thân nhiệt và các bộ phận khác trong cơ thể,
trong khi nhiệt độ nước ở nhà tắm La Mã luôn luôn duy trì ở khỏang 43 độ C, nên dịch hoàn bị
ảnh hưởng, dẫn tới nhiều trường hợp vô sinh ở đàn ông.
Ba là nhiễm độc chì mạn tính. Theo nghiên cứu của một nhà xã hội học Mỹ, người La Mã bị
chứng nhiễm độc này khiến đàn ông không có con, còn phụ nữ thường đẻ non hoặc thai nhi
chết khi vừa lọt lòng. Nguyên do là người La Mã thường sử dụng ống dẫn nước, ly tách, nồi
niêu bằng chì. Về phía phụ nữ, họ dùng quá nhiều mỹ phẩm pha bột chì nên rất dễ nhiễm độc.
Vào thời kỳ cuối, do ngâm mình quá lâu trong nước nóng và bị nhiễm độc chì, dân số La Mã
giảm đáng kể. Mặt khác, vì sa đà quá đáng vào chuyện tình dục, họ hoàn toàn mất nhuệ khí,
thiếu vũ dũng. Cuối cùng, binh lực của họ ngày càng suy yếu, đế quốc La Mã đã nhanh chóng
bị tiêu diệt.
Tìm thấy vương quốc Etruscan huyền thoại?

Những bãi đã trắng này có thể là di tích của chợ trung tâm vương quốc
Chamars.
Vương quốc hư ảo của hoàng đế Lars Porsena đang phơi bày dần ra trên những ngọn
đồi Tuscan gần Florence, Italy. Được gọi là Chamars, vùng đất này từng là thành

nhất từng được khám phá ở Tuscany". Có niên đại từ thế kỷ 5 trước Công nguyên, khu định cư
này được xây dựng trên bờ sông Bisenzio, ngay bên ngoài cái mà Centauro khẳng định là
tường thành phòng thủ của Chamars.
"Thành phố chắc chắn đã bị bỏ rơi. Có lẽ nước sông Bisenzio đã tràn vào đó", Gabriella
Poggesi, nhà khảo cổ tham gia đợt khai quật cho biết. Tuy vậy, ông không bình luận về giả
thuyết của Centauro, cho rằng có mối liên hệ giữa thành phố mới tìm được và vương quốc
Chamars.
Centauro tin rằng khu định cư mới tìm thấy chỉ là một trong số vài khu định cư nằm trong
tường bao của vương quốc Chamars. Ông cùng cộng sự đang xem xét chi tiết tất cả những
phát hiện trong khu vực gần thành phố. Nhóm của Centauro đã khám phá ra các bức tường đá
quây quanh một khu vực rộng 18 km2. Trong khu vực này, có rất nhiều mộ, móng nhà rộng
và một hệ thống các kênh dẫn nước phức tạp cũng như bể nước nhân tạo.
Gần cánh phía đông của các bức tường thành này là một vùng thôn quê có tên gọi Chiuso.
Centauro cho rằng đó chính là Clusium, một khu dân cư nằm trong vương quốc Chamars, từng
bị tướng La Mã Silla tấn công và bao vây vào năm 89 trước Công nguyên.
Nếu Centauro đúng, phát hiện này sẽ xác minh cho giả thuyết của Pliny về mộ phần của
hoàng đế Lars Porsena. Pliny viết rằng thi hài hoàng đế được chôn "dưới thành phố Clusium",
với những cái chuông và chuỗi hạt treo khắp nơi, ngân nga lên khi gió thổi qua chúng.
Tuy nhiên, các quan chức địa phương đến nay vẫn từ chối đề nghị cho phép khai quật khu vực
này.
Nhiều chuyên gia nghi ngờ những dấu vết đổ nát mà Centauro tìm thấy là của Chamars, thay
vì thế, họ tin rằng thành phố cổ này nằm ở vùng Chiusi, tây nam Florence ngày nay.
Khám phá hệ thống dẫn nước thời La Mã cổ đại
Một mô hình máy tính đang vén mở bức màn bí mật về kỹ nghệ thuỷ lợi của người La
Mã cổ đại.Những bức tường rào nhiều lỗ bí ẩn còn lại cho đến ngày nay có thể là một
phần trong hệ thống dẫn nước đồ sộ thời đó, có tác dụng làm lưu thông các dòng
chảy.
Vào thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, những kỹ sư La Mã đã xây dựng một hệ thống cống hầm
và bể chứa để đưa nước tới thành phố Aspendos (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Aspendos là
một trung tâm thương mại quan trọng của người La Mã ở Tiểu Á (Asia Minor), nằm ở giao điểm

Những ký tự tượng hình mới được phát hiện chứng tỏ người Maya đã biết sử dụng
một hệ thống chữ viết phức tạp sớm hơn 150 năm so với các suy đoán trước đây.
Những nét chạm khắc, có từ khoảng năm 250 trước Công nguyên, được tìm thấy nguyên vẹn
trên các bức tường và những mảnh vỡ thạch cao trong cấu trúc hình kim tự tháp nổi tiếng tại
Las Pinturas, ở San Bartolo, Guatemala.
Chữ viết xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà, Ai Cập và Ấn Độ khoảng 3.000 năm trước công nguyên.
Tuy nhiên những ký tự hoàn chỉnh đầu tiên - một chuỗi các dấu hiệu rõ ràng kể lại một câu
chuyện - vẫn chưa có mặt ở Tân Thế giới cho đến tận năm 400-300 trước Công nguyên.
Những văn bản phôi thai này là con đẻ của người Zapotecs ở thung lũng Oaxaca, phía nam
miền trung Mexico. Hầu hết chữ viết sớm của người Maya chỉ xuất hiện từ năm 150-250 sau
Công nguyên.
Vì hệ chữ Zapotec nổi lên sớm hơn nhiều nên các nhà nghiên cứu tin rằng người Maya đã bị
ảnh hưởng của nó.
Những nét chạm khắc đơn sớm nhất của người Maya - có thể biểu thị tên người hoặc là một ký
hiệu trên lịch - có niên đại khoảng năm 600 trước Công nguyên. Tuy nhiên, chúng không được
coi là chữ viết. Những chữ tượng hình mới được tìm thấy phức tạp hơn nhiều, trưởng dự án
William Saturno từ Đại học New Hampshire cho biết.
"Đây là chữ viết phát triển hoàn chỉnh nhất và rõ ràng nhất", Saturno nhận định. "Nó không
nói rằng người Maya đã phát minh chữ viết và không phải là người Zapotec, nhưng nó dẫn
chúng tôi tới câu hỏi về nguồn gốc và tính phức tạp về những nguồn gốc này".
Một điều dường như chắc chắn: Hệ chữ Maya không bị ảnh hưởng bởi người Zapotec.
Mặc dù chữ viết rất rõ ràng, song các nhà khoa học vẫn không thể 'dịch' được gì ở phát hiện
mới.
Truyền thuyết thành Rome
Truyền thuyết kể lại rằng thành Rome ra đời vào năm 753 trước Công nguyên, do
Romulus và Remus, 2 cậu con trai sinh đôi của thần chiến tranh Mars, sáng lập. Lúc
mới sinh, hai anh em được một con sói cái cho bú trong rừng sâu.
Nay các nhà khảo cổ tin rằng họ đã tìm ra bằng chứng cho thấy ít nhất khoảng thời gian trong
truyền thuyết đó là đúng: Dấu vết của một cung điện hoàng gia mới được phát hiện ở quảng
trường La Mã được xác định là có niên đại trùng với thời điểm hình thành nên thành phố bất

Hình ảnh 2 đứa trẻ trần truồng ngửa mặt bú sữa từ một con sói cái đã trở thành chủ đề xuyên
suốt trong nghệ thuật La Mã, và các bức điêu khắc minh họa truyền thuyết này đều xuất hiện
tại các bảo tàng trong khu vực.
Tục giết người hiến tế của bộ lạc Aztec và
Maya
Từ lâu người ta đã tranh cãi liệu người Aztec và Maya có hủ tục giết người tế thần dã
man như các cuốn sách lịch sử đã ghi hay không. Nay các nhà khảo cổ đã thu thập
nhiều bằng chứng khẳng định sự thật ghê rợn này
Bằng những công cụ pháp y tiên tiến, các nhà khảo cổ đã chứng minh rằng những cuộc hiến tế
thời xưa bao gồm hàng loạt thủ tục giết người man rợ, trong đó trẻ con là nạn nhân chính yếu.
Trong hàng thập kỷ nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Tây Ban Nha chiếm đóng châu
Mỹ từ thế kỷ 16-17 đã bóp méo sự thật để hạ thấp nền văn minh của thổ dân da đỏ. Một số lại
cho rằng các cuộc hiến tế đó chỉ nhằm vào tù binh. Những người khác thừa nhận người Aztec
có thể khát máu, nhưng người Maya thì không.
"Giờ chúng tôi đã có bằng chứng cụ thể để chứng thực cho những tài liệu ghi chép", nhà khảo
cổ Leonardo Lopez Lujan tại Đại học Harvard, Mỹ, tuyên bố.
Những bản ghi chép có hình minh hoạ của người da đỏ cùng với lời kể lại của người Tây Ban
Nha đã miêu tả các hình thức tế người dã man. Các nạn nhân bị chặt đầu, moi tim, bắn tên,
cào xé, ném đá, nghiền nát, phanh thây, xẻ thịt, lột da, chôn sống hoặc ném từ trên đỉnh đền.
Trẻ em là nạn nhân chủ yếu bởi chúng được coi là trong sạch và thuần khiết.
Hơn một thập kỷ trước, nhà nhân chủng học Carmen Pijoan tuyên bố đã tìm thấy một trong
những bằng chứng đầu tiên về việc ăn thịt người ở một nền văn hoá tiền Aztec: xương người
với những vết cắt xẻ.

2 bộ xương người Aztec được khai quật ở Ecatepec, Mexico.
Tháng 12 năm ngoái, trong khi khai quật vùng đất có từ thời Aztec ở Ecatepec, phía bắc thành
phố Mexcio, nhà khảo cổ Nadia Velez Saldana đã miêu tả nghi lễ tế người dâng thần chết.
"Những nạn nhân bị thiêu chết hoặc đốt cháy một phần", Velez Saldana nói. "Chúng tôi tìm
thấy một hố chôn có những mảnh xương của 4 đứa trẻ bị thiêu một phần, và dấu tích của 4
đứa trẻ khác bị cháy hoàn toàn".

giới sẽ diệt vong nếu không có các nghi lễ hiến tế. Trong khi đó, nạn nhân bị hiến tế lại được
coi là thánh trước khi bị giết.
"Thật khó để chúng ta có thể tưởng tượng được. Với họ - những người bị hiến tế - đó gần như
là một niềm vinh dự", Lujan nhận định
Đế quốc Cival
Hơn 2.000 năm trước, trong khi người La Mã đang tàn phá Carthage và người
Hopewell đang xây dựng những công trình ở Ohio, thì một nền văn hoá rộng lớn đã
nảy nở tại một khu vực ở Guatemala ít được biết tới, gọi là Cival
"Thật thú vị khi chúng ta lật ngược lại một số quan điểm đã tồn tại từ lâu. Mọi người vẫn cho
rằng Maya thời tiển cổ điển là một xã hội tương đối đơn giản, nhưng không hề như vậy. Đã
xuất hiện một nền văn minh thịnh vượng mà bây giờ chúng ta mới bắt đầu khám phá",
Francisco Estrada-Belli tại Đại học Vanderbilt, đứng đầu cuộc khai quật, phát biểu.
Cival là một trong những thành phố lớn nhất của Maya thời tiền cổ điển, có thể chứa tới
10.000 người vào thời điểm cao nhất. Nó đã phát triển song song cùng Holmul, nơi đạt thời kỳ
hoàng kim vào gần 1.000 năm sau trong giai đoạn Maya cổ điển.
Nền văn minh Maya cổ điển bắt nguồn từ khoảng năm 300 sau Công nguyên, trong khi Cival
thịnh vượng vào khoảng năm 500 trước Công nguyên tới 100 sau Công nguyên. Sau đó nó đã
bị bỏ hoang một cách bí ẩn và không bao giờ được tái sinh nữa.
Theo Estrada-Belli, trục trung tâm của các công trình và quảng trường ở Cival hướng về phía
mặt trời mọc tại điểm phân (xuân phân hoặc thu phân). Một trong những hiện vật quan trọng
được tìm thấy là bức tượng khuôn mặt khổng lồ của một vị thần Maya còn nguyên vẹn. Bức
tượng làm bằng vữa xtuco có kích thước 4,5 x 2,7 m, có một con mắt, một cái miệng vuông và
nanh rắn ở chính giữa.
"Tình trạng nguyên vẹn của nó thật là đáng kinh ngạc. Cứ như là ai đó vừa làm ra nó từ hôm
qua", Estrada-Belli nói.
Trong tháng 4, người ta đã tìm ra bức tượng khuôn mặt thứ hai giống y hệt. Con mắt của nó
được trang trí vỏ ngô và có từ khoảng năm 150 trước Công nguyên.
Cival còn những kim tự tháp và một khu liên hợp nằm xung quanh một quảng trường trung
tâm. Phía trước một toà nhà dài nằm ở phía tây khu liên hợp, các nhà khảo cổ tìm thấy một
tấm bia khắc bằng đá có từ năm 300 trước Công nguyên. Đó có thể là vật khắc sớm nhất được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status