Tài liệu Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội - Pdf 97

Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị: Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội – Michael Waibel

1
NGHIÊN CỨU

Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị:
Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững
của TP Hà Nội

Michael Waibel

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhận dạng những thách thức chủ yếu cho sự phát triển toàn
diện và bền vững của thành phố Hà Nội mở rộng. Vì vậy khung nghiên cứu như sau: giới
thiệu về mô hình “Chu trình phát triển đô thị thời kỳ quá độ’ làm mẫu cho sự phát triển đô thị
của các vùng thủ phủ của Việt Nam được bàn luận tập trung vào việc nghiên cứu các mối liên
hệ của các thành phần liên quan và những động lực thúc đẩy cụ thể của sự phát triển đô thị
trong tiến trình quá độ. Điểm nhấn mạnh đặc biệt của bài nghiên cứu này đặt trên vai trò của
tầng lớp trung lưu đang nổi trội nhanh chóng. Vì thế tầng lớp trung lưu đô thị được xem như
một nhóm mục tiêu cho tính bền vững của đô thị tương lai. Trong bối cảnh này, các vấn đề
của nhà ở tiết kiệm năng lượng được làm nổi bật, vì nhà ở đem đến khả năng duy nhất và to
lớn nhất cho việc giảm thiểu hiệu ứng nhà kính. Sau cùng, nghiên cứu này nhận dạng những
chính sách tái cấu trúc bên trong hướng đến những tiến bộ trong chuỗi giá trị kinh tế và những
hàm chứa của chúng trong chiến lược phát triển đô thị như một động lực quan trọng nhất cho
sự phát triển đô thị bền vững của Hà Nội đến năm 2030.

Mô hình phân tích của “Chu Trình Phát Triển Đô Thị Thời Kỳ Quá Độ”
Mô hình tự phát triển này trước hết giải thích sự tăng trưởng tính phi chính quy của đô thị sau
những bước tiến đầu tiên của quá trình cải cách và vì thế thiết lập mối liên kết với khả năng
quản lý đô thị (xem hình 1).

Hình 1

được phân chia ranh giới, chẳng hạn như các vùng kinh tế hoặc các khu chế xuất. Bên trong
các khu vực này, sự kiểm soát phát triển ở mức độ cao và hạ tầng sẵn có thường có chất lượng
đặc biệt tốt hơn so với các nơi khác. Sự kiểm soát trên những khu vực này thường được
chuyển giao cho các tổ chức với những mục đích đặc biệt, thường là các tổ chức do nhà nước
vận hành, cam kết ứng xử theo kiểu doanh nghiệp. Nếu thành công, việc phát triển không gian
kinh tế sẽ dễ dàng mở rộng thành những khu vực không gian rộng lớn hơn. Những đột phá
của các tổ chức được xúc tiến nhờ những hiệp hội có mục tiêu đặc biệt này cũng được chuyển
Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị: Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội – Michael Waibel

3
giao tương tự cho hành động quản lý chung về đô thị. Ngược lại có rất ít quan tâm dành cho
việc cung cấp những tiện nghi cho dân nhập cư dù họ làm việc trong những khu vực này, dẫn
đến sự bùng nổ hiện tượng được gọi là sự tích tụ nhà trọ ở vùng lân cận với khu vực được
trang bị tốt. Khu ở trọ thường có điều kiện sống và điều kiện nhà ở bấp bênh.
Kết quả của công cuộc cải cách thành công theo định hướng kinh tế thị trường là nghèo đói đô
thị đã được giảm xuống đáng kể vào những năm 1990. Điều đó cho phép các cá nhân và hộ
gia đình trở thành những người lèo lái sự phát triển của đô thị. Giai đoạn phát triển đô thị tự
phát và vô tổ chức hình thành và khởi xướng từ chính những người dân địa phương. Đây là
một phản ứng tức thời bởi cư dân đô thị đối với sự thiếu hụt trầm trọng về nhà ở trong thời kỳ
kinh tế bao cấp, cũng như tính cấp thiết của thị trường bất động sản sở hữu tư nhân, và vật
liệu xây dựng ngày càng sẵn. Kết quả dẫn đến mật độ dày đặc của kết cấu đô thị ở trung tâm
đô thị cũng như ở vùng ven. Ở Hà Nội, đích đến được ưa chuộng nhất của những người thành
công trong giai đọan quá độ sớm là khu vực Hồ Tây. Luật xây dựng và sử dụng đất cho dù
vẫn tồn tại nhưng thường bị bỏ qua vào thời kỳ đó. Theo phương diện phát triển nhà ở, giai
đoạn này kéo dài khoảng 12 đến 15 năm tính từ thời điểm khởi đầu quá trình cải cách giữa
những năm 1980 cho đến khoảng thời gian bắt đầu thiên niên kỷ mới. Cũng như vậy, các hoạt
động phi chính quy bên lề cũng diễn ra hàng loạt. Hiện tượng này có thể được xem như phản
ứng linh họat cho sự thiếu hụt về không gian thương mại và nhu cầu rộng rãi về tăng nguồn
thu nhập phụ thêm. Nhiều người từ khu vực vùng ven và lân cận đô thị đi lại thường xuyên
đến Hà Nội để buôn bán hàng hóa I . Khu phố cổ Hà Nội là tâm chấn của hoạt động này và

khối ngoài quốc doanh, chính quyền thành phố nhắm đến việc bù vào sự thiếu hụt khả năng
quản lý và kiến thức, sự phân mảnh thể chế, và trên hết là thiếu vốn. Khuynh hướng này thiên
về tư nhân hóa phát triển đô thị dần trở nên phổ biến, và đôi khi bị chỉ trích nặng nề không chỉ
ở Việt Nam mà ở cả những vùng thủ phủ khác trên thế giới. Tuy nhiên, dường như mức độ
quản lý nhà nước trong các dự án này tương đối cao hơn ở Việt Nam so với hầu hết các quốc
gia khác. Hầu hết sự thực thi của các tiến trình quản lý khiến cho sự phát triển đô thị có thể
thực hiện được. Nhưng tiến trình này cũng đem theo cùng nó những nguy cơ phân mảnh
không gian xã hội, đe dọa sự gắn kết xã hội và chỉ phục vụ nhu cầu cho tầng lớp thượng lưu
mà thôi. Trường hợp giai đọan cất cánh tăng vọt của Việt Nam, quá trình tư nhân hóa của phát
triển đô thị chưa trở nên tr
ầm trọng như dự đoán vài năm trước. Gần đây phân cực xã hội có
vẻ giảm bớt trong lòng đô thị. Trong lúc đó, cư dân các khu vực đô thị mới không chỉ là giới
thượng lưu về kinh tế mà giai cấp trung lưu mới nổi đang gia tăng nhanh chóng.

Giai cấp trung lưu đóng vai trò nhóm mục tiêu cho sự bền vững của đô thị
Quá trình chuyển tiếp của xã hội đô thị Việt Nam dẫn đến sự khác biệt xã hội về mặt thu
nhập, giáo dục, kích cỡ gia đình, kiểu tiêu thụ, v.v… sản xuất ra những phân chia giai cấp
chưa được biết đến cho tới hiện nay. Là hệ quả của sự tăng vọt về kinh tế, giới trung lưu đô
thị Việt Nam tăng đột ngột. Theo công ty nghiên cứu thị trường TNS, số lượng hộ gia đình có
thu nhập một lần từ 251 đến 500 USD tăng từ 31% năm 1999 lên 55% vào năm 2008. Số hộ
gia đình có thu nhập trên 500 USD tăng còn mạnh mẽ hơn, gấp 5 lần lên thành 37% cùng thời
gian đó (xem Hình 2)
Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị: Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội – Michael Waibel

5

Hình 2
Cho nên, giai tầng xã hội này đang dần tiếp nhận lối sống tiêu thụ tài nguyên ở mức độ cao.
Cho đến nay các ứng xử mang tính thân thiện với môi trường có vẻ không có chuyển biến gì
mấy. Ngược lại nói chung vị thế xã hội dường như phụ thuộc rất nhiều vào việc theo đuổi các

Hình 3
Thực tế, diện tích không gian ở của tầng lớp trung lưu ở thành phố Hồ Chí Minh gần như
không khác biệt so với diện tích không gian ở của cư dân Đức. Khảo sát cũng cho thấy rằng
sự phát triển các biệt thự đơn lập rất tiêu tốn quỹ đất và vì thế nên có biện pháp giới hạn trong
trường hợp phát triển đô thị ở Hà Nội. Các nhà nhỏ trong hẻm mà được xây dự
ng chủ yếu
trong giai đoạn “quá độ sớm” trong các khu ở thấp tầng – mật độ cao rõ ràng là đem đến một
tỉ lệ hợp lý về không gian sống /đầu người. Đây cũng là trường hợp loại hình nhà chung cư,
dù không bao gồm các chi phí gián tiếp cho thang máy và sử dụng đất của khu vực bao quanh.
Nói chung loại hình nhà liên quan khắng khít đến diện tích không gian sống và vì vậy tổ hợp
cân bằng các loại hình nhà ở cần được nghiên cứ
u theo góc nhìn quy hoạch đô thị Hà Nội đến
năm 2030. Sẽ tồn tại những thách thức đối với quy hoạch đô thị khi gây ảnh hưởng đến các
nhà phát triển bất động sản theo hướng các kiểu hình nhà ở bền vững nhất trong tương lai.
Về lượng tiêu thụ điện năng, khung cảnh cũng không có khác biệt với tình hình ở Đức, dù ở
thành phố Hồ Chí Minh điện năng tiêu thụ cho việc làm mát còn ở Đức năng lượng tiêu thụ
cho hệ thống sưởi ấm chủ yếu là xăng dầu.
Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị: Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội – Michael Waibel

7

Hình 4
Cũng trong trường hợp tiêu thụ điện năng, khảng năng tiết kiệm năng lượng có vẻ khả quan,
các chủ căn hộ ở TP Hồ Chí Minh than phiền về độ kín khí kém hiệu quả trong nhà họ gây ra
bởi sự cách nhiệt kém, vì sẽ làm thất thoát khá nhiều khí mát từ máy điều hòa. Chỉ một số
lượng nhỏ các hộ gia đình lắp đặt hệ thống nước nóng dùng năng lượng mặt trời, quá trình lắp
đặt không tốn nhiều chi phí so với tổng chi phí xây dựng và mang lại tiềm năng tiết kiệm năng
lượng to lớn. một cách tổng quat, các chủ hộ ở TP Hồ Chí Minh quan tâm nhiều hơn tới vấn
đề tình trạng pháp lý của căn nhà ( quyền sử dụng đất hợp lý và sổ đỏ) và về vấn đề an ninh
hơn là về môi trường và hiệu quả sử dụng năng lượng (xem Hình 5).

nhân, đã và đang được mở rộng trong những năm gần đây. Nhưng như vậy đã đủ chưa? Với
mức lương rất thấp chi trả trong các trường đại học, những người giỏi nhất chắc hẳn sẽ chọn
công việc ở nơi khác. Hiển nhiên đây thực sự là vấn đề cấp thi
ết không thể giải quyết chỉ bằng
quy hoạch đô thị.
Các công ty công nghệ cao và khối trí thức cũng yêu cầu một môi trường làm việc trong lành.
Khu vực Hà Tây có khối tích lớn môi trường như vậy. Trên khía cạnh đó, việc tạo lập một
hành lang khối kỹ thuật cao đến Hòa Lạc đem đến một cơ hội độc nhất. Tuy nhiên, cũng nên
chừa lại nhiều không gian cho các hành lang cây xanh và các mảng xanh. Khu vực tương lai
Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị: Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội – Michael Waibel

9
của thành phố công nghệ cao nên duy trì độ chặt chẽ. Sau đây là ví dụ về Atlanta về việc
không nên để khu vực đô thị phát triển lộn xộn (xem hình 6). Ví dụ tốt hơn là thành phố
Barcelona và tiết kiệm được rất nhiều năng lượng về chi phí cho vận chuyển đi lại. Hình 6
Trên hết, bạn nên nhận thức rằng sự tạo ra các nơi chốn cho công việc phát minh không thể
đạt được chỉ với việc hoàn thành đầy đủ các tiện ích kỹ thuật. Cũng cần đến khả năng chuyển
giao kiến thức từ các trường đại học địa phương, tạo ra các ngành phụ trợ, các cơ hội có được
nguồn vốn hỗ trợ và các không gian khác nhau dành cho sự trao đổi chinh quy và phi chính
quy giữa mọi thành phần liên quan đến sản phẩm trí tuệ. Ở ngữ cảnh này, rất cần thiết để Hà
Nội thu hút các thành viên thuộc nhóm gọi là tầng lớp sáng tạo. Theo ý tưởng của nhà xã hội
học người Mỹ Richard Florida, các thành viên của tầng lớp sang tạo là những ai tạo ra các
phát kiến và nguồn việc, do đó đóng góp đến sự thịnh vượng bền vững của thành phố. Về ý
kiến tranh luận này, tầng lớp sáng tạo được xem như những người được săn lùng nhiều nhất
trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu để tìm kiếm nhân tài. Tầng lớp sang tạo có thể tìm việc dễ
dàng bất cứ nơi đâu, nhưng khiến họ quyết định làm việc ở đâu phụ thuộc rất nhiều vào lối
sống sinh động của đô thị dựa trên sự đa dạng, phóng khoáng và giàu văn hóa. Ở khía cạnh

Khái niệm về thành phố bền vững không chỉ đề cập đến việc phân vùng hợp lý và cung cấp
các mảng xanh. Đó là một khái niệm chính thống lên quan không chỉ tới quy hoạch đô thị mà
còn đến mọi thực thể nhà nước và xã hội đô thị. Ngay cả sau khi mở rộng Hà Nội, mục đích
căn bản của quy hoạch đô thị nên là khái niệm về thành phố nén và thành phố với khoảng
cách gần. Có lẽ có thể học hỏi được từ giai đoạn đô thị hóa vùng ngoại vi một cách phi chinh
quy trong quãng thời gian bộ mặt xây dựng đô thị được tạo lập dày đặc. Vẫn còn một câu hỏi
mở cần giải đáp đó là vấn đề làm thế nào kết cấu kỳ lạ đa tầng lớp của trung tâm đô thị với
biên độ dao động khổng lồ có thể được nhân rộng ở những khu vực phát triển đô thị mới của
Hà Nội mở rộng.
Mối đe dọa lớn từ tiến trình biến đổi khí hậu nên được xem như sự thúc đẩy việc thiết lập các
liên minh mới trong phát triển đô thị toàn diện gìn giữ sự gắn kết của xã hội đồng thời tránh
những vùng phát triển không kiểm soát. Từ khía cạnh này, quy hoạch tổng thể mới cho vùng
Gắn Kết Xã Hội và Tính Chặt Chẽ Đô Thị: Những Thách Thức cho Sự Phát Triển Toàn Diện và Bền Vững của TP Hà Nội – Michael Waibel

11
mở rộng sẽ đem đến cơ hội có một không hai để tạo lập khung định hướng cho Hà Nội để trở
thành thủ đô bền vững đầu tiên vào năm 2030.

References
Chua, B H. (2000) “Consumption in Asia: Lifestyles and Identities.” London, New York.
Jackson, T. (ed.) (2006) The Earthscan Reader on Sustainable Consumption, 1
st
Ed, Earthscan Ltd.
Florida, Richard (2004) “The rise of the creative class.” New York.
Myers, N. and J. Kent (2003). “New consumers: The influence of affluence on the environment.”
PNAS, 8(100), 4963-4968.
Siemens (ed.) (2008) „Sustainable Urban Infrastructure: London Edition – a view to 2025” (Report
prepared by the Economist Intelligence Unit)”. Munich.
<http://w1.siemens.com/press/pool/de/events/media_summit_2008/sustainable_urban_infrastructure
-study_london.pdf> (February 23, 2009).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status