TRƯỜNG
KHOA……………………
TIỂU LUẬN
Đề tài
Việt Nam trong xu thế hội nhập và
phát triển dưới con mắt triết học
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba (1913 – 1950), sự
phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển nhanh
chóng của lực lượng sản xuất vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, mở rộng trên
phạm vi toàn thế giới theo cả chiều rộng và chiều sâu. Do đó, tất cả các quốc gia
không phân biệt trình độ đã và đang hình thành mối quan hệ gắn bó lẫn nhau. Đường
biên giới quốc gia và khoảng cách địa lý trở nên mờ nhạt, các tổ chức kinh tế khu vực
và toàn cầu nối tiếp nhau ra đời. Sự ra đời của các tổ chức lớn như WTO, APEC,
NAFTA và gần đây là sự ra đời của các khu vực đồng tiền chung Euro đã là ví dụ
điển hình trong thiên niên kỉ mới này, cuộc cách mạng công nghệ tiếp tục đi sâu, mở
rộng ứng dụng công nghệ tin học sẽ là động lực chính thúc đẩy hơn nữa quá trình hội
nhập kinh tế, toàn cầu hoá.
Trước bối cảnh toàn cầu như vậy, công cuộc phát triển kinh tế của nước ta
không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hoá. Nhận thấy được tình hình kinh tế của đất
nước đang gặp khó khăn, tháng 12/1986 Đảng và Nhà nước quyết định chuyển đổi
nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong chiến lược phát triển kinh tế, vấn đề hội nhập nền kinh tế thế
giới, tăng cường hợp tác kinh tế các nước và các tổ chức quốc tế đang là vấn đề được
quan tâm. Với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ” và “là bạn của
nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, và cũng đồng
thời khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của các mối liên hệ đó.
Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác
nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy
nhất, thống nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn
tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau
theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng
định rằng, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự chuyển hoá
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện
tượng trong thế giới. Do đó mọi mối liên hệ đều mang tính khách quan, là vốn có của
mọi sự vật, hiện tượng.
Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan, mà còn mang tính phổ biến. Bởi
lẽ, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác. Không có
sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Trong thời đại ngày nay không một
quốc gia nào không có quan hệ, không có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt
của đời sống xã hội. Chính vì thế mà hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu
hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt của đời sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và
đang trở thành vấn đề toàn cầu như : đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh
thái, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chiến tranh và hoà bình…Ngoài ra, mối liên hệ
được biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể theo điều kiện nhất định Song,
dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất,
chung nhất.
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
Mặt khác, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt
của sự vật hiện tượng, mà sự vật hiện tượng luôn tồn tại và vận động không ngừng
theo nhiều cách thức khác nhau. Do đó mà mối liên hệ còn mang tính đa dạng. Và
công lao động quốc tế theo lối áp đặt trực tiếp phải sụp đổ và thay thế bằng hệ thống
phân công mới gọi là toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình phát
triển mới của phân công lao động và hợp tác sản xuất vượt ra khỏi biên giới một quốc
gia vươn tới qui mô toàn thế giới, đạt trình độ chất lượng mới.
Như vậy, toàn cầu hóa kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoá sản
xuất, của tốc độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự thúc đẩy
của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nó là kết quả tất yếu của sự phát triển
sâu rộng nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới, sự gia tăng phân công lao
động quốc tế, sự mở rộng hơn nữa trong không gian và thời gian các mối quan hệ
giao lưu phổ biến của loài người và sự hiện diện nóng bỏng của những vấn đề toàn
cầu cấp bách. Nói cách khác, nó là kết quả của các quá trình tích luỹ về số lượng đã
tạo ra một khối lượng tới hạn để số lượng biến thành chất mới; xu hướng quốc tế hóa,
khu vực hoá đã chuyển thành xu hướng toàn cầu hoá trong thời đại ngày nay. Nó là
một trong những xu thế lịch sử tất yếu do quy luật phát triển của lực lượng sản xuất
chi phối.
Và trong đó đặc trưng nổi bật của toàn cầu hoá kinh tế là nền kinh tế thế giới
tồn tại và phát triển như một chỉnh thế, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, có
quan hệ tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú. Tham gia toàn
cầu hoá kinh tế, các quốc gia vẫn hoàn toàn độc lập về chính trị, xã hội, vẫn là các
chủ thế tự quyết định ý thức hệ, vận mệnh và con đường phát triển của mình. Toàn
cầu hoá kinh tế làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau về vốn, kỹ thuật,
công nghệ, nguyên liệu và thị trường. Đến nay toàn cầu hoá kinh tế đã cuốn hút nhiều
quốc gia ở khắp các châu lục, đã có 27 tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu ra đời và
hoạt động [ Thẩm Kỳ Như – Trung Quốc không làm bất tiên sinh…Viện TTKH, Học
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
viện CTQG HCM, H1999, tr358-359 ] Đây là sự phát triển mới chưa từng có. Lịch sử
đã chứng tỏ không một quốc gia nào, dù lớn và giàu đến đâu, cũng không thể sản
tương đối khá; kinh tế Trung Quốc phát triển ngoạn mục; Đông Nam á và Đông á
phát triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước, tuy nhiên vừa qua
đã rơi và suy thoái và nay đang hồi phục; Nam Á và Châu Phi vẫn chưa thoát khỏi
tình trạng trì trệ kéo dài; kinh tế Mỹ latinh có khá hơn song cũng không ổn định.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang tác động đến tất cả các nước
trên thế giới với những mức độ khác nhau, đưa lại những thành quả cực kỳ to lớn cho
nhân loại và những hậu quả xã hội hết sức sâu sắc. Công nghệ thông tin đang là nhân
lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn mới
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản
phẩm. Công nghệ sinh học là bước đột phá vào thế giới đầy bí hiểm của sự sống, tạo
ra một tiềm năng to lớn cho việc sản xuất các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu của con
người như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệp thoả
mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người. Công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng
lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ … mở ra một tiềm năng mới cho loài người
chinh phục tự nhiên, chinh phục vũ trụ. Tự động hoá trong sản xuất ngày càng giải
phóng con người khỏi những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm
phục vụ xã hội.
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến cuộc sống của tất
cả các dân tộc trên thế giới. Ngày nay các nền kinh tế của các quốc gia gắn bó hữu cơ
và tuỳ thuộc vào nhau. Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế gia tăng. Nền sản
xuất thế giới mang tính toàn cầu. Phân công lao động quốc tế đạt tới trình độ ngày
càng cao. Phương châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của mình, lấy các nước
làm phân xưởng của mình, qua đó phân công lao động quốc tế có thể lợi dụng ưu thế
kỹ thuật, tiền vốn, sức lao động và thị trường của các nước, thúc đẩy quá trình quốc
tế hoá sản xuất phát triển nhanh chóng. Trong quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá,
nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trình phát triển đất nước nói chung
và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng.
2. Hội nhập kinh tế với các nước đang phát triển
Thế giới ở vào thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ đang chứng kiến những
đổi thay sâu sắc trên tất cả mọi lĩnh vực, từ sản xuất vật chất đến đời sống tinh thần
xã hội. Toàn cầu hoá nổi lên như một trong những xu hướng chủ đạo chi phối hệ
thống quan hệ quốc tế hiện đại. Xét trên phương diện sản xuất vật chất xã hội, một
giai đoạn mới của lịch sử nhân loại đang từng bước quá độ từ xẫ hội gắn với nền văn
minh công nghiệp lên nấc thang phát triển cao hơn. Nấc thang phát triển này được
đặc trưng bởi công nghệ và cơ cấu kinh tế mới – kinh tế tri thức, trên cơ sở áp dụng
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
rộng rãi các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến, các phương tiện truyền tin hiện
đại và máy tính.
Nhìn một cách tổng quát, toàn cầu hoá kinh tế là quá trình phổ biến theo hướng
nhất thể hoá trên phạm vi toàn cầu những giá trị, tri thức, những hoạt động, những
mô hình – cấu trúc trong lĩnh vực kinh tế và cả khoa học, kỹ thuật. Trong đó các
nước đang phát triển tham gia với động lực cơ bản là nhằm mở rộng thị trường xuất
khẩu, tạo mối liên kết thương mại giữa các quốc gia, các khu vực với nhiều hình thức
phong phú, hoạt động có hiệu quả. Và cho đến nay, một số các quốc gia đang phát
triển đã đạt được những tiến bộ vượt bậc ví như : ở khu vực Đông Nam á có Thái
Lan, Malayxia, Singapo đã chuyển mạnh sang kinh tế hướng về xuất khẩu và thu
được những thành quả tốt.
Xét về việc mở rộng và đa dạng các mối liên kết thương mại thì chính sách tỷ
giá, chính sách giảm thuế xuất nhập khẩu, bãi bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan
đã làm cho hoạt động thương mại tại các nước mở rộng thị trường và tăng khối lượng
hàng hoá xuất nhập khẩu.
hậu so với trình độ của các nước phát triển. Khoảng cách ấy không những không
được khắc phục, rút ngắn mà còn thực sự trở thành nguy cơ chia cắt thế giới làm hai
nửa khác biệt: vài chục quốc gia tiên tiến đã vượt hơn 100 quốc gia thuộc “thế giới
thứ ba” hàng vài thập niên phát triển hoặc gấp trăm lần chênh lệch về thu nhập bình
quân GDP tính theo đầu người.
Các nước này tuy đã giành được độc lập, đó là một thành quả vô cùng quan
trọng, song các nước này hầu hết lại là các nước nghèo, còn lạc hậu. Cho nên, họ vẫn
bị phụ thuộc vào hệ thống kinh tế của chủ nghĩa tư bản : từ khai thác – sử dụng tài
nguyên, quy trình sản xuất, vốn, kỹ thuật – công nghệ đến thị trường tiêu thụ cũng
như phân công lao động quốc tế… Các nước đang phát triển đang phải đối diện trước
thách thức của nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế. Bởi một cơ cấu kinh tế còn
nhiều bất hợp lý, trong đó tỷ trọng công nghiệp nhỏ bé trong tổng giá trị thu nhập
quốc dân, cộng thêm với trình độ thấp kém về năng suất lao động, cho nên tốc độ
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
phát triển kinh tế của đa số các nước đang phát triển thấp và bấp bênh. Trong thập
niên 60, các nước đang phát triển đạt mức tăng trưởng 5,7%, thập niên 70 đạt 5,3%
thì đến thập niên 80 là 2% và những năm vừa qua của thập niên 90 tuy tình hình có
được cải thiện, song cũng chỉ đạt mức trên 4% trong khi tỉ lệ tăng dân số vẫn còn ở
mức trên 2%/năm.
Không những thế vấn đề nợ nước ngoài cũng trở thành gánh nặng đối với các
nước đang phát triển. Số liệu thống kê của Liên hợp quốc cho thấy, nợ nước ngoài
của các nước này đã tăng hơn 300 lần trong 4 thập niên qua : từ 6 tỉ năm 1995 lên
trên 2000 tỉ đầu năm 2000. Trong đó, có những nước mà tổng số nợ đã vượt xa so với
tổng thu nhập quốc dân. Những bi kịch về nợ nước ngoài của các nước đang phát
triển không chỉ được biểu hiện ở tổng số nợ khổng lồ mà còn là tình trạng nhiều nước
không có khả năng thanh toán dù chỉ là lãi suất hằng năm, trong khi dó tốc độ của các
khoản vay vẫn gia tăng và không hề có dấu hiệu giảm bớt.
từng bước khắc phục và hạn chế những hậu quả tiêu cực của toàn cầu hoá cũng như
trong quá trình xúc tiến quan hệ với các nước phát triển.
Hội nhập kinh tế là một vấn đề cấp bách và mang tính thời đại, nhưng đó cũng
là một bài toán hóc búa, đang thách đố các quốc gia, dân tộc đang phát triển, thôi
thúc họ tìm lời giải tối ưu. Giữ vững độc lập dân tộc, phát huy nội lực và kết hợp với
chủ động mở rộng hội nhập quốc tế, trở thành một trong những điều kiện tiên quyết –
chìa khoá hữu hiệu để giải mã bài toán này trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay.
3. Sự hình thành tất yếu của chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
Thật ra, chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển đất nước
không phải là một điều gì hoàn toàn mới đối với Đảng và Nhà nước ta. Nó là sự kế
thừa, phát triển và vận động sáng tạo vào hoàn cảnh hiện nay của đất nước, những
luận điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà vừa mới ra đời sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong bài trả lời
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
phỏng vấn của các nhà báo ngày 23 tháng 10 năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác
những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác…Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên
môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong công
cuộc kiến thiết quốc gia” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, T4, NXB Chính trị quốc gia, HN
1995, tr74)
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước,
nước ta đã gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), tích cực tham gia Phong trào
không liên kết, Liên hợp quốc mà một trong những nội dung cơ bản là đấu tranh cho
một trật tự kinh tế thế giới công bằng. Bên cạnh mối quan hệ với các nước trong cộng
đồng XHCN, nước ta đã ra sức thúc đẩy quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi với
các nước tư bản chủ nghĩa mặc dầu lúc đó các thế lực thù địch thực hiện chính sách
nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự
cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ đối ngoại; nắm vững hai
mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; ưu tiên hợp tác khu vực đồng thời
mở rộng quan hệ với tất cả các nước.
Đại hội lần thứ VIII họp tháng 6/1996 đã khẳng định chủ trương “xây dựng
một nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Hội
nghị Trung ương 4 khoá VIII nêu nhiệm vụ “tích cực chủ động thâm nhập và mở
rộng thị trường quốc tế”, “tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định
thương mại với Mỹ”, “gia nhập APEC và WTO, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực
hiện cam kết trong khuôn khổ AFTA”.
4. Nhận định về những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trên con
đường hội nhập kinh tế quốc tế.
4.1. Những cơ hội mà Việt Nam có được khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình “mở cửa” nền kinh tế, đưa các doanh
nghiệp trong nước tham gia tích cực vào cạnh tranh, quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
tế chúng ta có cơ hội tích luỹ được những tiền đề, những điều kiện cho một trình độ
phát triển mới. Trước hết chúng ta có cơ hội thu hút vốn, khoa học, kỹ thuật công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh tế từ bên ngoài và mở rộng thị trường để
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước ra khỏi tình trạng
kém phát triển. Tiếp đó hội nhập kinh tế tạo khả năng mở rộng thị trường ra nước
ngoài trên cơ sở các hiệp định thương mại đã ký kết với các nước, trong khu vực và
toàn cầu. Tạo cơ hội giao lưu các nguồn lực của nước ta với các nước, bởi chúng ta
có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng nếu không hội nhập thì việc sử dụng trong nước sẽ
bị lãng phí, kém hiệu quả. Thông qua hội nhập ta có thể xuất khẩu lao động qua hợp
đồng gia công hàng xuất khẩu. Đồng thời tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kỹ thuật
nước phải chấp nhận tư cách thành viên cạnh tranh ngang bằng các nước khác. Mà xu
hướng tự do hoá thương mại quốc tế càng phát triển thì cạnh tranh quốc tế ngày càng
khốc liệt. Điểm đặc biệt là ta phải cạnh tranh ngay từ đầu, trên tất cả các mặt trận, với
những thế lực mạnh hơn nhiều về thực lực và trình độ. Tại diễn đàn Kỳ họp thứ 6,
Quốc hội khoá XI, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng nhiều lần nhấn mạnh : “Sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế thua kém nhiều nước xung
quanh là điều bất lợi lớn nhất khi hội nhập kinh tế quốc tế” Hội nhập kinh tế quốc tế,
chúng ta đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đầu tư theo chiều sâu để
nền kinh tế đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, chúng ta đứng
trước khó khăn rất lớn trong việc điều chỉnh hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách
làm sao vừa bảo đảm cho đổi mới thành công, nền kinh tế phát triển bền vững; vừa
phù hợp với cam kết quốc tế; lại có khả năng khắc phục những tiêu cực, rủi ro do hội
nhập đem lại. Nhìn chung, nếu không vượt qua được những thách thức này, chúng ta
không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế. Mặt khác, toàn cầu hoá đang bị chủ
nghĩa tư bản chi phối trên các lĩnh vực : thị trường, khoa học – công nghệ và vốn.
Các nước tư bản đang mưu toan ding những lợi thế này để gây sức ép đối với chúng
ta. Thực tế này đe doạ tấn công vào chủ quyền quốc gia, là xói mòn các giá trị văn
hoá truyền thống của dân tộc, đe doạ sự ổn định về kinh tế và xã hội của đất nước.
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
Hơn bao giờ hết, chúng ta cần tỉnh táo trong từng bước hội nhập, cần phân tích tính
hai mặt của toàn cầu hoá để nhận thức được những mặt, những xu hướng, những tác
động, những quy luật vận động của nó. Trên cơ sở đó chủ động tìm ra con đường,
cách thức biện pháp phù hợp trong từng bước hội nhập để tiếp tục con đường phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hoà bình”
với nước ta.
PHẦN 2
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. CÁC BƯỚC ĐI CỦA TA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
Năm 1993, chúng ta khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc
tế như IMF, WB, ADB. IMF, WB đã hỗ trợ cho ta thông qua Chương trình tín dụng
trung han; Chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAC) của WB và chương trình điều
chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF) của IMF. Nội dung đàm phán với các tổ chức này gắn
bó mật thiết với những yêu cầu của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong quan
hệ với các tổ chức này, chúng ta chỉ chấp nhận sự hỗ trợ tài chính nếu yêu cầu của họ
không trái với đường lối chính sách của ta; có năm điều kiện họ đưa ra vi phạm chủ
quyền và lợi ích của ta nên ta không nhận.
Ngày 25/7/1995, nước ta đã chính thức gia nhập ASEAN, đồng thời tham gia
khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Từ ngày 1/1/1996, chúng ta bắt đầu thực
hiện nghĩa vụ và các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEFT) của AFTA. Cụ thể, khi tham gia vào AFTA, Việt Nam có nghĩa vụ giảm thuế
suất xuống còn 0 – 5 % vào năm 2006 và sau đó tiếp tục giảm thuế xuống 0% vào
năm 2015. Bên cạnh đó Việt Nam phải thực hiện lộ trình loại bỏ các hạn chế về định
lượng và hàng rào phi thuế quan khác; xây dựng một danh mục biểu thuế quan chung
ASEAN; xây dựng hệ thống luồng xanh hải quan theo GATT/WTO và xây dựng hệ
thống luồng xanh hải quan nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thương mại. Ngoài ra chúng
ta còn tham gia đàm phán hiệp định thương mại dịch vụ, tham gia chương trình hợp
tác công nghiệp (AICO) và khu vực đầu tư ASEAN (AIA) cũng như các chương trình
hợp tác trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…của ASEAN.
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
đại. Việt Nam không thể tránh khỏi tầm ảnh hưởng của xu thế tất yếu này và cũng
không muốn bị tụt lùi hơn nữa. Kết quả là sự thay đổi cơ chế, buộc Việt Nam phải bắt
nhịp với sự phát triển của thế giới. Một hệ thống chính trị đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa nhưng hoạt động kinh tế thị trường với chính sách hợp lí, mềm dẻo, mở
cửa để hội nhập, các hoạt động đối ngoại mở rộng, đa phương, song phương từng
bước tham gia vào các diễn đàn kinh tế lớn, mở rộng quan hệ ngoại giao, từ đó thiết
lập các mối quan hệ hàng hoá thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
Nhờ đó mà chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định mà trước hết là
chúng ta đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập, cấm vận của các thế lực thù địch,
tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước trên chính trường và thương trường thế giới.
Nước ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liên Xô và
hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã và cuộc khủng hoảng khu vực gây nên, đồng thời
mở rộng thị trường xuất nhập khẩu.
Trong gần 20 năm đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu kinh tế
rõ rệt, một nền kinh tế thị trường đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã dần được
hình thành và tiến từng bước tăng trưởng và phát triển.
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá nhanh và toàn
diện, năm sau cao hơn năm trước.
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Tăng GDP 4,8% 6,8% 6,8% 7,0% 7,2% 7,7%
Bảng thể hiện tỉ lệ tăng trưởng kinh tế qua các năm. Như vậy là vào năm 2004,
Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao của khu vực, tăng khá cao với thời gian trước
đó và cũng là mức cao nhất so với 6 năm trước đó. Đặc biệt là so với năm 1990 về
giá trị GDP lớn gấp trên 2,74 lần, về công nghiệp gấp gần 6,5 lần, về xuất khẩu gấp
Tr−êng §¹i häc KTQD TiÓu luËn TriÕt
nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản
lý sản xuất hiện đại.
Đồng thời, các lĩnh vực xã hội như giải quyết việc làm, nâng cao đời
sống của đông đảo quần chúng nhân dân, phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế,
thể dục thể thao, xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế – xã hội cho các vùng sâu, vùng xa,
dân tộc thiểu số đã được quan tâm phát triển để từng bước đồng bộ với phát triển
kinh tế. Cụ thể: mỗi năm có hơn 1,2 triệu lao động mới có việc làm. Tỉ lệ hộ nghèo từ
trên 30% giảm xuống còn 10%. Người có công với cách mạng, với đất nước được
quan tâm, chăm sóc. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm từ 2,3% giảm xuống 1,4%.
Tuổi thọ bình quân từ 65,2 tuổi lên 68,3 tuổi. Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo chúng ta đã đạt được thành tựu to lớn. Nếu thời Pháp thuộc tỉ lệ dân số đi học
mới chỉ đạt 2%, tiểu học là 0,4%, số người học đại học không quá 1000 người, 95%
dân số mù chữ. Thì gần 50 năm sau, năm 1999, chúng ta có 16.508.452 học sinh, số
sinh viên là 401.666 người. Đặc biệt là năm 2000 Việt Nam đã hoàn thành giáo dục
phổ cập bậc tiểu học. Có được kết quả trên là do nhiều nguyên nhân. Trong đó một
trong những nguyên nhân có vai trò quyết định đó là việc tăng ngân sách trong lĩnh
vực giáo dục trong cơ cấu chi tiêu của chính phủ. Năm 1997, tỉ lệ ngân sách chi cho
giáo dục chiếm 11,6% tống số chi ngân sách, năm 1998 là 11,86%, năm 1999 là
12,4%. Nhờ thế năng lực nghiên cứu khoa học được tăng cường, ứng dụng nhiều
công nghệ tiên tiến. Các hoạt động văn hoá thông tin phát triển rộng rãi và nâng cao
chất lượng, góp phần tích cực động viên toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, nâng cao kiến thức và chất lượng cuộc sống. Phong trào thể dục, thể thao rèn
luyện sức khỏe phát triển, thành tích thi đấu thể thao trong nước và quốc tế được
nâng lên.
Việc xây dựng luật pháp và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN)
tiếp tục được chăm lo, dân chủ xã hội được mở rộng. Công tác xây dựng, chỉnh đốn