Điếc và cách phát hiện
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bethoven nhà soạn nhạc nổi tiếng, cả thế giới ai cũng biết đến khi bị điếc đã
thốt lên:”Sự bất hạnh này của tôi làm nỗi đau tăng lên gấp hai, không ai hiểu được
tôi. Tôi không còn những cuộc vui, những cuộc nói chuyện thú vị, không còn
những buổi trao đổi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp. Tôi muốn được hòa
nhập với xã hội nhưng căn bệnh của tôi bắt tôi sống như một người bị ruồng bỏ”.
Ảnh hưởng điếc đối với người lớn đã vậy, nhưng đối với trẻ nhỏ còn nặng nề
hơn nhiều, có thể ví như một thảm họa. Nó gây ra các hậu quả liên tiếp. Trẻ nghe
kém thường chậm nói hoặc không nói được. Từ đó dẫn đến chậm phát triển ngôn
ngữ và gây khó khăn cho việc học tập.
II. ĐIẾC VÀ ĐỘ ĐIẾC
1. Thế nào là điếc ?
- Người điếc là người không có khả năng nghe như người có sức nghe bình
thường.
- Có nhiều mức độ điếc khác nhau :
· Nghe bình thường: có thể nghe được cả lời nói thầm
· Điếc nhẹ: chỉ nghe được lời nói bình thường khi đứng cách 1 mét
· Điếc trung bình: Chỉ có thể nghe nói lớn khi đứng cách 1mét
· Điếc nặng: chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai.
· Điếc sâu (rất nặng) : Không nghe được cả những từ hét sát tai = điếc
2. Điếc mức độ nào được coi là tàn tật ?
Người lớn: khi chỉ nghe được tiếng nói lớn hoặc các từ thét lên
Trẻ em: Khó khăn nghe khi giao tiếp bình thường
Vì sao mức độ điếc được coi là tàn tật của trẻ em so với người lớn lại
nhẹ hơn ? vì trẻ em cần nghe tốt để học nói và phát triển ngôn ngữ
3. Để hiểu chúng ta nghe như thế nào, trước tiên xin nhắc lại
a. Giải phẫu tai:
- Tai ngoài: vành tai, ống tai ngoài, màng nhĩ
- Tai giữa: chuỗi 3 xương nhỏ (xương búa, xương đe, xương bàn đạp)
Mức độ điếc: nhẹ, vừa, nặng, sâu, thậm chí điếc hoàn toàn
· Thường là điếc vĩnh viễn
·
Điều trị: Tùy theo nguyên nhân, một số trường hợp có thể điều trị thuốc.
Giải phẫu không tác dụng.
·
Máy nghe: có thể giúp trong các trường hợp điếc nhẹ đến nặng
·
Cấy điện ốc tai rất tốt trong các trường hợp điếc nặng và sâu
4.3 Điếc thần kinh sau ốc tai : rất hiếm
·
Nguyên nhân: dây thần kinh thính giác không có hoặc bị hư hại vì thế tín
hiệu không thể đưa lên não (u dây thần kinh thính giác. Tổn thương ở thân não
(tắc mạch,u, nhiễm khuẩn, xơ cứng rải rác). Tổn thương ở vỏ não (viêm não,
viêm màng não, chấn thương, xuất huyết, tắc mạch, u, thiếu máu…)
·
Máy nghe: có tác dụng rất ít
·
Cấy điện ốc tai: không ích lợi gì
· Cấy điện thân não: có thể giúp ở vài trường hợp
4.4 Điếc hỗn hợp: thường hay gặp
·
Nguyên nhân: có thương tổn tai ngoài, hoặc tai giữa, hoặc cả tai ngoài và
tai giữa với thương tổn tai trong
·
Đặc điểm: có cả đặc điểm của điếc dẫn truyền lẫn đặc điểm của điếc thần
kinh ốc tai.
III. NGUYÊN NHÂN ĐIẾC VÀ PHÒNG NGỪA
1. Các nguyên nhân trước và trong sanh
1.1.Di truyền: điếc truyền lại trong dòng họ và gia đình
Tiếng ồn
Làm việc trong môi trường ồn liên tục, trong tiếng
nhạc lớn, hoặc tiếp xúc các tiếng nổ lớn
Tai nạn
Chấn thương đầu, chấn thương tai
Tuổi già
Khi tuổi càng lớn, hệ thống thính giác cũng bị lão hóa
và gây điếc
Nút ráy tai
Cản trở đường truyền âm thanh có thể gây điếc ở bất
cứ tuổi nào
Tai có dịch
Viêm tai giữa thanh dịch là nguyên nhân thường gặp
gây nghe kém ở trẻ em
Các biện pháp phòng ngừa điếc sau sanh:
· Thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia
· Khám phát hiện và điều trị bệnh giang mai ở phụ nữ mang thai,
· Cần phải thận trọng khi ghi đơn thuốc cho trẻ em vì có một số loại
thuốc gây ngộ độc tai.
· Điều trị sớm các nhiễm trùng tai
· Gíáo dục cho cộng đồng về tác hại của tiếng ồn
· Trẻ sanh ra bị vàng da cần được điều trị
· Khuyến khích người dân mang nón bảo hộ khi đi xe máy
IV. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC:
A. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHE ĐỐI VỚI TRẺ EM
1. Nghe tốt rất quan trọng trong việc học nói
2. Nghe tốt và nói tốt rất quan trọng trong giao tiếp
3. Giao tiếp tốt rất quan trọng đối với việc học ở nhà và ở trường
4. Học tốt giúp cho trẻ phát triển năng lực một cách toàn diện
Trẻ có sức nghe bình thường, lúc đầu phát ra những âm ngẫu nhiên, rồi uốn nắn
thầm
Nhẹ
26-40 dB Nghe và nhắc lại giọng
bình thường cách 1 mét
Có lúc cần máy nghe
Trung
bình
41-60 dB Nghe và nhắc lại giọng
lớn cách 1mét
Cần máy nghe
thường xuyên
Nặng
61-80 dB Nghe 1 số từ hét lớn vào
tai
Cần máy nghe
thường xuyên. Nếu
không có thì phải dạy
đọc hình môi và ra
dấu
Sâu
³ 81 dB Không có khả năng nghe
và hiểu cả tiếng hét vào
tai
Máy nghe có thể
giúp phần nào. Phải
có huấn luyện phục
hồi thêm. Đọc hình
môi và ra dấu là chủ
yếu
thử bằng cách phát ra nhiều từ ở giọng nói
lớn
¯
Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,
tai đang thử Þ điếc trung bình
¯
Đổi tai thử
¯
Nếu bệnh nhân không nhắc lại được tiếp tục thử
bằng cách hét ra nhiều từ ở sát tai
¯
Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,
tai đang thửÞ điếc nặng
¯
Đổi tai thử
Bệnh nhân thậm chí tiếng hét lớn cũng không nghe thì bị điếc sâu hay còn gọi
là điếc
3. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ EM NHỎ
Đối với trẻ em nhất là trẻ nhỏ, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc là người có thể
biết tốt nhất trẻ có nghe được hay không. Trẻ phát triển bình thường, ở mỗi độ tuổi
khác nhau có thể có những biểu hiện khác nhau với âm thanh. Vì vậy, chúng ta cần
phải nắm được quá trình này.
Tuổi
(tháng)
Đáp ứng với âm thanh
< 1
Một vài dấu hiệu như mở mắt, chớp mắt
6
Quay đầu hoặc mắt nhìn theo hướng phát âm
thanh
9
Con của bạn có nghe được âm rất nhỏ
không? Có thích bập bẹ hay tạo ra các
âm khác không?
12
Khi bạn gọi tên, con của bạn có biết
không? khi bạn nói tên một số đồ chơi
bé có biết không? Có bắt đầu bập bẹ
vài từ không?
18
Khi bạn yêu cầu con của bạn cầm lên
hay chỉ một đồ vật gì bé có làm theo
không? Có biết sử dụng một số từ đơn
giản không?
24
Con bạn có nghe được ngay cả khi bạn
nói nhỏ không? Có biết nói những câu
đơn giản với bạn không?
Nếu có câu hỏi nào trả lời không, có thể đứa trẻ này bị nghe kém. Cần giải thích
với bố mẹ và giới thiệu trẻ đến nơi có máy móc đặc hiệu để chuẩn đoán xác định.
4. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ SƠ SINH
Phương tiện: - Phòng yên tĩnh
- Dụng cụ: Gịong nói
- 01 người, tốt nhất là nữ, nếu là mẹ thì tốt nhất
Các bước tiến hành:
- Bé vừa mới ngủ không quá 5 phút
cơ thể như tóc, tai, tay, mũi, miệng v.v…
- Nếu nói thầm bé chỉ không đúng thì dùng giọng nói thường,
nếu không đúng nữa thì dùng giọng nói lớn, rồi đến hét lớn gần tai.
Từ đó, ta có thể đánh giá sơ bộ bé điếc nhẹ, trung bình, hay nặng
V. PHÁT HIỆH SỚM VÀ CAN THIỆP SỚM
Khi bị điếc, cần phải được can thiệp sớm. Muốn can thiệp sớm thì phải phát
hiện được sớm. Can thiệp càng sớm bao nhiêu thì tác hại của điếc giảm đi bấy
nhiêu. Tùy theo từng loại điếc và nguyên nhân gây ra mà chúng ta can thiệp.
1. Điều trị bằng thuốc hoặc thủ thuật, phẫu thuật
-
Tai ngoài: Có nhiều bệnh nhân sau khi đi tắm biển về hoặc sau khi tắm gội bị
điếc luôn một hoặc hai tai, đó là do ráy tai bị nở ra bít kín đường truyền âm thanh
đến màng nhĩ. Đối với những trường hợp này chỉ cần lấy ráy tai ra bệnh nhân sẽ
nghe lại bình thường.
-
Tai giữa: tắc vòi nhĩ hoặc viêm tai giữa thanh dịch nếu không điều trị kịp thời sẽ
dẫn đến viêm tai giữa thủng nhĩ. Lúc này muốn tăng sức nghe lên không chỉ điều
trị bằng thuốc mà còn phải thực hiện phẫu thuật vá nhĩ.
- Tai trong: Điếc đột ngột, bệnh nhân thường bị điếc sau một đêm ngủ dậy. Đây
là bệnh không gây tử vong ngay như các bệnh cấp cứu khác nhưng cũng là một
trong các bệnh cấp cứu tai mũi họng, vì kết quả điều trị rất khác nhau nếu ngay 1
ngày sau điếc hay một tuần sau mới điều trị.
Sau điều trị thuốc và phẫu thuật mà sức nghe đã cải thiện vẫn không đáp ứng
được giao tiếp bình thường thì phải có thêm trợ thính bằng máy nghe hay cấy
điện ốc tai
2. Cho bệnh nhân mang máy nghe.
Tất cả các trường hợp điếc nhẹ và điếc trung bình, thậm chí điếc nặng và điếc
sâu mà không có đủ khả năng kinh tế để cấy điện ốc tai đều nên mang máy nghe
càng sớm càng tốt. Những người điếc nhẹ và điếc vừa nếu không can thiệp sớm sẽ
ảnh hương đến sinh hoạt và công tác hàng ngày vì không giao tiếp tốt. Nếu để lâu