LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài : bán phá giá hàng hoá
, Tháng năm
1
Các khách hàng độc lập: là khách hàng chiếm giữ lớn hơn hoặc bằng 5% vốn của
nhà xuất khẩu hoặc nhà xuất khẩu chiếm lớn hơn hoặc bằng 5% vốn của cả khách
hàng và nhà xuất khẩu.
1.1.1.3. Các biện pháp xác định giá trị thông thường
Giá trị thông thường là mức gía mà ở đó hàng hoá được bán cho người tiêu dùng ở
trong nước xuất khẩu.
Trong trường hợp người xuất sản phẩm ra nước ngoài và không bán sản phẩm đó ở
trong nước thì giá trị thông thường có thể được xác định bằng mức giá xuất khẩu
tới nước thứ ba.
Nếu nước xuất khẩu không phải là nước sản xuất hàng hoá mà do nhập từ nước sản
xuất về rồi xuất khẩu đi thì giá trị thông thường được xác định trong nước sản xuất
hàng hoá đó.
Trường hợp nước xuất khẩu là một nước thực hiện kế hoạch hoá tập trung thì được
phép chỉ định một nước thay thế.
1.1.2. Giá xuất khẩu:
1.1.2.1. Khái niệm:
Giá xuất khẩu là giá đã trả thực sự hoặc có khả năng trả giá xuất khẩu tới cộng
đồng, tới một khách hàng độc lập. Trong các trường hợp:
Nếu không có giá đã trả hoặc có khả năng trả tức là không có giá xuất khẩu thì phải
sử dụng giá kiến tạo.
Nếu không có giá xuất khẩu tới cộng đồng thì không phải chịu sự điều tra.
Nếu không có khách hàng độc lập thì phải sử dụng giá kiến tạo.
Ví dụ: người xuất khẩu bán hàng cho người nhập khẩu mà người nhập khẩu đó có
quan hệ họ hàng với người xuất khẩu, mức giá bán 1 là 90USD (là giá xuất khẩu
không tin cậy).
Các chi phí: 20% , lãi thông thường: 10%.
3
Chi phí quản lý hành
chính sản xuất: 10 USD
Chi phí sản xuất : 130USD
Chi phí quản lý và bán hàng: 40 USD
Tổng chi phí 170 USD
Lãi (15%) 30 USD
Giá trị kiến tạo 200 USD
Chú ý: Lãi là ở mức bình thường trên doanh số. 1.2. Khái niệm về bán phá giá hàng hoá
1.2.1. Khái niệm
Theo điều VI của Hiệp định chung về buôn bán và thuế quan (GATT) năm 1947
xác định:
Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hoá ở
một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm
đó khi bán ở trong nước.
Một sản phẩm được coi là bán phá giá khi nó được đưa vào hoạt động thương mại
tại nước nhập khẩu với giá xuất khẩu thấp hơn giá có thể so sánh được trong tiến
trình buôn bán thông thường đối với sản phẩm tương tự khi đưa tới người tiêu dùng
ở trong nước xuất khẩu.
Như vậy, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự tách biệt về giá, khi giá xuất
khẩu thấp hơn gía trị thông thường của hàng hóa đó ở trong nước xuất khẩu.
5
Thứ nhất: Xác định hành vi (Bán phá giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với
giá quá thấp so với giá thông thường…).
Thứ hai: Xác định mục tiêu của hành vi ( …để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế
cạnh tranh đúng pháp luật).
Thứ ba: Xác định hệ quả xảy ra của hành vi và việc thực hiện mục tiêu của
hành vi ( Gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức , cá nhân sản xuất kinh
doanh khác và lợi ích Nhà nước).
Một khái niệm với ba nội dung nêu trên có liên quan mật thiết với nhau và nó là
quan hệ nhân quả; nếu cắt bỏ bất kỳ vế nào củakhái niệm trên thì khái niệm sẽ mãi
mãi không thể là một khái niệm hoàn chỉnh.
1.2.2. Điều kiện bán phá giá hàng hoá
Theo điều 23- “Pháp lệnh giá” của Việt Nam ngày 8/5/2002
Các hành vi sau không bị coi là hành vi bán phá giá:
Hạ giá bán hàng tươi sống
Hạ giá bán hàng tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ
Hạ giá bán hàng hoá để khuyến mại theo quy định của pháp luật
Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản
xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh.
Điều kiện bán phá giá hàng hoá là phải lũng đoạn được mặt hàng đó ở thị trường
trong nước để tránh nguồn hàng nhập khẩu trở lại.
Có thể nói bán phá giá hàng hoá là một trong những biểu hiện trực tiếp lớn nhất
của sự can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực Ngoại thương, đồng thời là thủ đoạn
quan trọng để mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá trên thị trường ngoài nước. Đặc
điểm của bán phá giá hiện nay là phần lớn do Nhà nước tiến hành và tổn thất do
Ngân sách Nhà nước gánh chịu.
8
tranh, giảm lượng bán và tăng giá bán. Khi tự do cạnh tranh, sau một khoảng thời
gian không dài thị trường không cân bằng, lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm
thoả thuận giảm sản lượng xuống tạo ra mức cân bằng mới của thị trường nhưng
vẫn có lợi nhuận cao hơn cạnh tranh ngang.
Còn đối với các nước xuất khẩu, khi thực hiện hành động bán phá gía nhằm mục
tiêu lợi nhuận, nước xuất khẩu phải hạn chế tối đa nhập khẩu, các doanh nghiệp
trong nước thoả thuận với nhau về giá, nâng mức giá trong nước lên. Mặt khác, họ
xuất khẩu với giá triệt tiêu đối thủ. Sau khi chiếm lĩnh thị trường nước nhập khẩu,
họ sẽ tìm cách thao túng để thu lợi nhuận tối đa.
Nguyên nhân của việc tăng lợi nhuận khi bán phá giá:
Các doanh nghiệp trong nước đã thoả thuận với nhau để xác định mức sản lượng
từng hãng và xác định mức giá chung trong nước. Khi đó họ sẽ thu được nhiều lãi
trong việc nâng giá bán.
Tăng được số lượng hàng xuất khẩu do giá rẻ hơn tại nước nhập khẩu , tạo điều
kiện cho các hãng này mở rộng sản xuất, tận dụng được hết công suất, máy móc
thiết bị dẫn đến giảm chi phí, do đó mà bù lỗ cho việc bán phá giá ở nước ngoài.
Khi mọi đối thủ cạnh tranh đã bị đánh bại, họ sẽ lũng đoạn thị trưòng nước nhập
khẩu về mặt hàng được đem bán phá giá và lợi nhuận sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.
Một số ví dụ về việc bán phá giá mặt hàng tivi của Nhật tại thị trường Mỹ:
Từ những năm 1960, các công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là HITACHI,
SANYO, SHARP và TOSHIBA đã cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng ngày
10/09/1964, họ đã thoả thuận thống nhất nâng giá bán, quy định sản lượng của mỗi
công ty.
Kết quả của việc thoả thuận nâng giá này là người Nhật phải trả giá 700USD cho 1
chiếc tivi màu trong khi ở Mỹ giá là 400USD/chiếc tivi cùng loại. Các công ty của
Mỹ đã không chịu nổi sự cạnh tranh và đến năm 1989, sáu hãng lớn và nhiều hãng
nhỏ của Mỹ bị phá sản, công nghiệp sản xuất bị suy yếu, ngược lại các hãng điện tử
động trẻ em, tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu.
Việc sử dụng lao động trẻ em ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận còn là cách để
10
cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh. Nhờ giá nhân công rẻ mạc, người ta có thể hạ giá
thành sản phẩm , xuất khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài.
Đối với mặt hàng ngoại nhập khẩu, do thu được lợi nhuận siêu ngạch có được từ
trốn thuế nhập khẩu, hàng ngoại sẽ điều tiết và chiếm lĩnh được thị trường với
giá cạnh tranh so với hàng hoá sản xuất trong nước. Ví dụ: hàng vải trên thị
trường Việt Nam, thực tế hàng vải nội chỉ giữ 20% thị phần còn 80 % thị phần
là hàng vải ngoại nắm giữ, trong đó hàng Trung Quốc chiếm 60% thị phần, phần
lớn số vải từ Trung Quốc là do nhập lậu, trốn thuế nên được bán với giá dù chỉ
bằng 1/3- 1/2 hàng sản xuất trong nước.
1.5. Những ảnh hưởng của việc bán phá giá hàng hoá
Hành động bán phá giá có thể có lợi trong một số trường hợp ,nhưng nếu lạm dụng
quá thì sẽ gây nhiều tác hại đối với nước nhập khẩu cũng như nước xuất khẩu.
1.5.1. Đối với nước xuất khẩu
1.5.1.1. Mặt tích cực
Bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được lượng hàng tồn kho,
đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt Tiêu biểu như ở
Pháp, ngay từ khi mới vào mùa đã có lượng hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết
thời hạn sử dụng, quần áo , giầy dép hết mốt lên tới 50% số dự trữ bán ra. Hàng
tồn kho này được mang bán với mức giá thấp hơn 30% giá thị trường. Đến cuối
cao chất lượng sản phẩm, tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng nguồn
nhân lực để hạ chi phí sản xuất nhằm giữ vững vị trí trên thị trường và thu được lợi
nhuận tối ưu. 12
1.5.2.2. Tác động tiêu cực
Bán phá giá hàng hoá cũng gây ra không ít những khó khăn cho nước nhập khẩu,
nhất là đỗi với các nước đang phát triển, có thị trường hẹp.
Trước hết với người tiêu dùng của nước nhập khẩu họ phải sử dụng những mặt
hàng kém chất lượng, hàng giả, đôi khi cả hàng quá thời hạn sử dụng, không đảm
bảo về an toàn về an toàn thực phẩm, vệ sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khoẻ của người dân.
Các chủ doanh nghiệp, những người kinh doanh do hám lợi, thu được lợi nhuận
cao, do đó tìm mọi cách nhập lậu hàng hoá, trốn thuế gây thất thu cho Ngân sách
Nhà nước. Hơn nữa do không thể cạnh tranh đựơc với hàng nước ngoài nên nhiều
xí nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bị phá sản hoàn toàn. Khi đó nó là
nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc độ phát triển nền kinh
tế của nước nhập khẩu.
Về mặt xã hội, việc các xí nghiệp bị đóng cửa sản xuất hoặc ở bên bờ của sự phá
sản hoạt động cầm chừng đã làm cho nhiều công nhân không có việc làm, đời sống
khó khăn, thất nghiệp tăng, kèm theo nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng gây khó
khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhập khẩu.
gặp nhiều khó khăn hơn trong cuộc cạnh tranh này, còn Trung Quốc sẽ tìm mọi
biện pháp để thực hiện mục tiêu của mình.
Bên cạnh đó, tình trạng buôn lâụ, trốn thuế ở nước ta ngày càng gia tăng và càng
phức tạp hơn. Buôn lậu làm cho hàng ế thừa, hàng kém phẩm chất được bày bán
tràn lan trên thị trường, gây tổn thất nặng nề cho các nhà sản xuất trong nước, gây
thiệt hại về kinh tế và sức khoẻ cho người tiêu dùng.
14
Xét về tổng thể, do sự cạnh tranh không lành mạnh của các hãng nước ngoài, nền
công nghiệp nội địa nước ta đang trong thế suy yếu. Xét cụ thể trong một số ngành
sau:
2.1.1. Ngành dệt may
Thực trạng
Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành công nghiệp dệt may đã có sự phát triển
vượt bậc, có vai trò quan trọng trong công cuộc Công nghiệp Hoá đất nước, có khối
lượng sản phẩm và giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn. Theo thống kê, năm 1999 giá
trị xuất khẩu đạt 1,73 tỷ USD. Giá trị sản lượng hàng hoá chiếm tỷ trọng trên 8%
gía trị sản lượng toàn ngành công nghiệp và chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước. Tuy nhiên một mảng thị trường rất quan trọng mà chưa được các
doanh nghiệp Việt Nam quan tâm là thị trường nội địa.
Nghiên cứu các doanh nghiệp trên thế giới cho thấy bao giờ họ cũng luôn quan tâm
đến thị trường nội địa, lấy thị trường nội địa làm gốc, làm nền tảng. Trong khi đó
các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lại bỏ ngỏ thị trường này. Trên thực tế có
những doanh nghiệp trên 90% giá trị sản xuất là xuất khẩu, hầu như không thấy có
sản phẩm bán trong nước như công ty may Chiến Thắng, công ty may Hưng Yên
Một số công ty may có uy tín như công ty may 10, Thăng Long thì dung lượng
thị trường rất hẹp, chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu trong nước. Hiện nay, trên
thực tế vải nội địa chỉ giữ được 20% thị phần, còn nhường 80% thị phần cho hàng
+ Biện pháp khuyến khích ngưòi VN tiêu dùng hàng trong nước sản xuất.
+ Những chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành dệt và ngành sản xuất nguyên
phụ liệu cho ngành may. Đồng thời, Nhà nứơc cần tăng cường đầu tư vào các cơ sở
sản xuất này, trang bị những công nghệ hiện đại, tạo ra sự gắn kết giữa dệt và may.
+ Đầu tư vào các cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân dệt may, cần có sự
quan tâm hơn nữa về vấn đề thời trang.
16
Về giá cả các doanh nghiệp cũng cần có các biện pháp bảo hộ sản xuất của mình:
có thể thông qua giá tức là sản xuất sản phẩm với giá thấp để có thể phù hợp với
sức mua va cạnh tranh được.
2.1.2. Mặt hàng xe đạp, xe máy
2.1.2.1. Xe đạp
Trước thập niên 80, mỗi năm nước ta sản xuất không ít hơn 500.000 chiếc xe đạp
và khoảng 5.000 tấn phụ tùng. Đã hình thành 4 trung tâm sản xuất xe đạp với gần
100 doanh nghiệp có tên tuổi, phân bố đều trên các vùng đất nước như: Hà Nội, Hải
phòng, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, do nhiều
nguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng là hàng nhâp lậu trốn thuế bán
với giá quá rẻ, khiến cho hàng xe đạp nội địa không cạnh tranh nổi, ngành sản xuất
xe đạp bị tổn thương nặng. Bốn trung tâm sản xuất xe đạp lớn của cả nước nay chỉ
còn hai trung tâm là Hà Nội và Hồ Chí Minh hoạt động cầm chừng, còn giữ lại tên
gọi truyền thống, nhưng tồn tại nhờ vào việc sản xuất kinh doanh các mặt hàng
khác không phải sản xuất bằng xe đạp. Từ việc sản xuất 500.000 xe/năm đến nay
chỉ còn 150.000chiếc/năm. Hiệp hội xe đạp, xe máy Việt Nam ( VINACYCLE)
thành lập năm 1991 có 96 thành viên, đến nay chỉ còn 43 thành viên.
Tại Hà Nội, năm1996, liên hiệp các xí nghiệp xe đạp, xe máy (LIXEHA) có 13
công ty, xí nghiệp thành viên, chỉ sản xuất được 51.000 xe đạp và 1.500 tấn phụ
lớn hạ giá- 51 doanh nghiệp lắp ráp xe Trung quốc dạng IKD đã tạo nên sức ép
kinh tế đáng kể buộc các hãng xe máy liên doanh và 100% vốn nước ngoài phải hạ
giá. Super Dream từ 26 triệu đồng hạ xuống dưới 20 triệu đồng (thời điểm 2001).
Sirius từ trên dưới 24 triệu đồng xuống còn dưới 20 triệu đồng với phanh chống, 21
triệu với phanh đĩa. Viva 110 cũng tương tự.
VMEP là hãng có giá bán thấp nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, giá Angel năm 1998 là 1.300 USD, đến năm 2002 chỉ còn dưới
18
1.000 USD, mặc dù xe đã cải tiến nhiều. Các thương hiệu xe khác của hãng như
Magic, Magic star cũng phải giảm khoảng 1 triệu đồng/xe.
Để cạnh tranh với những hãng xe Trung quốc đang bán phá giá trên thị trường Việt
Nam, hãng Honda Việt Nam- một thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam đã tung ra
thị trường xe Honda Wave Alpha vào 19/01/2002. Xe Wave Alpha được thiết kế để
đáp ứng nhu cầu xe của thị trường Việt Nam: phù hợp với địa hình Việt Nam, giá
rẻ ( hơn 10 triệu đ) trong khi vẫn đảm bảo chất lượng và độ tin cậy cao thông qua
việc sử dụng các cấu kiện sản xuất trong nước với giá thành thấp hơn cũng như
những cấu kiện được mua qua hệ thống mua sắm toàn cầu của Honda. So với các
loại xe máy Trung quốc đang hiện hành thì Wave Alpha có nhiều tính năng hơn
hẳn.
Sau sự xuất hiện của Wave Alpha, người tiêu dùng đồng loạt mua loại xe mới này,
thị trường loại xe đó trở nên sôi động, nhiều người đã phải đặt cọc tiền mua trước
và sau một thời gian mới lấy được xe. Trong khi đó, nhiều cửa hàng bán xe Trung
quốc ở thành phố Hồ Chí Minh đồng loạt giảm giá bán các loại xe động cơ Longcin
và Lifan với mức 400- 600.000đ/xe.
Giá xe Trung quốc loại Dream cao còn 5,8- 6,5 triệuđồng/xe, Wave còn 6,2-
6,8triệu đồng/xe, . Nhưng dường như vẫn không cạnh tranh được với Wave Alpha
của Honda.
Đến tháng 04/2002 đã xuất hiện loại xe Wave Alpha TQ với mẫu mã, màu sắc
hơn phân cùng loại được sản xuất trong nước đến 500000 đồng/tấn. Hiện nay giá
chào bán phân NPK 16:16:8 là 1700- 1800 đồng /kg.Nhà nhập khẩu Việt Nam bán
cho đại lý là 2100- 2250đồng/kg, trong khi giá bán tại nhà máy trong nước là
2500-2600 đồng /kg. Để né tránh việc bị kiện bán phá gía, nhà nhập khẩu phân bón
từ Hàn Quốc đã không nhập nguyên bao mà nhập hàng về Việt Nam rồi mới đóng
bao.
Trước tình trạng bán phá giá này,các doanh nghiệp sản xuất phân bón Việt Nam
đang đứng trước những khó khăn. Các doanh nghiệp Việt Nam đang khiếu nại với
20
Hội phân bón Việt Nam và Chính phủ về vấn đề nay nhưng trên thực tế Việt Nam
chưa có “luật chống bán phá giá”nên rất khó cho việc giải quyết thực trạng này.
2.1.4. Nước giải khát
Trong trận chiến giữa các hãng đồ uống có ga quốc tế như Coca- cola và Pepsi, các
hãng sản xuất nước giải khát Việt Nam như Mekofood (sản xuất đồ uống có ga
nhãn Festi). Công ty Tribeco đã nhìn thấy trước những khó khăn trong cuộc chiến
này. Ngay khi vào cuộc, cảhai hãng tung ra những hình thức quảng cáo cùng với
chiến thuật cạnh tranh quyết liệt và liên tục. Coca- cola hạ giá bằng cách nâng dung
tích chai từ 207ml lên 300 ml nhưng vẫn giữ giá bán 1500đ. Còn Pepsi tung ra loại
chai dung tích 500ml, bán giá 1600đ, như vậy giá thành hạ xuống còn 800đ/250ml.
Trong khi đó sản phẩm của Tribeco là chai dung tích 207ml, giá bán 1100đ/chai,
còn chai Festi 200ml giá bán là 2000đ/chai.
Tháng 1 năm 1996 thị trường lại chứng kiến cuộc bán phá giá quy mô lớn của
Coca-cola. Công ty liên doanh Coca-cola Ngọc Hồi áp dụng chế độ khuyến mại
đến hết tháng 1/1996. Theo đó cứ mua 3 két coca hoặc 3 két sprite được tăng thêm
một két hay mua 5 thùng coca hoặc 5 thùng sprite thì tặng thêm 1 thùng. Nếu tính
ra thì Coca-cola đã hạ giá đến 25%, với mức giá này thì Coca-cola đã làm một cuộc
nứơc có mặt hàng bị bán phá giá. Kết cục thì mì chính bị đánh thuế chống bán phá
giá là 16.8%.
Cũng cùng năm này hàng giầy dép của Việt nam xuất khẩu vào EU cũng bị kiện
bán phá giá nhưng vì thị phần quá nhỏ nên không bị đánh thuế chống bán phá giá.
Năm 2000: bật lửa ga của Việt Nam xuất khẩu sang Balan đã bị kiện bán phá gía và
bị đánh thuế chống bán phá giá với mức 0.09euro/chiếc.
Năm 2001: mặt hàng tỏi của Việt Nam xuất khẩu sang Canada bị đưa vào vòng
kiện tụng bán phá giá và bị đánh thuế chống bán phá giá 1,48 CAD/kg.
Năm 2002, từ tháng 6 đến nay, doanh nghiệp VN lại phải đối mặt với ba vụ kiện
với các mặt hàng: đế giày, bật lửa ga vào Canada và cá da trơn vào Mỹ. Lý do mà
22
Hiệp hội cá nheo Hoa kỳ (CFA) đưa ra là hàng thuỷ sản VN bán giá rẻ, phá giá thị
trường. Nhưng trên thực tế, sau khi đi khảo sát vùng nuôi cá basa, cá tra ở đồng
bằng sông Cửu Long, tận mắt chứng kiến những bè cá lớn trên sông Tiền và sông
Hậu thuộc vào loại lý tưởng nhất thế giới, gặp gỡ những nhà nuôi trồng thuỷ sản
nơi đây cũng như khảo sát mặt bằng giá, phái đoàn của Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ,
của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam đã thừa nhận giá nhân công lao động ở một số nước có
thu nhập bình quân đầu người khoảng 300USD/năm phải khác với
23.000USD/năm. Như vậy sức tiêu thụ cá Việt Nam không giảm trên thị trường
Hoa kỳ là từ cuộc chiến thương hiệu CAFISH đã làm cho cái tên cá tra, cá basa nổi
tiếng ở thị trường Mỹ. Nếu vụ kiện được xem xét trên dữ kiện VN thì Mỹ sẽ đưa ra
mức thuế chống phá giá là 191%. Trường hợp VN được xem là nền kinh tế thị
trường thì mức để tính thuế là 144%.
Một điều đáng lưu ý là: nếu coi VN là một nước có cơ chế thị trường, một nước
nào đó có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng VN nếu xét
thấy trị giá thông thường của hàng hoá cao hơn giá xuất khẩu bán cho người nhập
khẩu hoặc hàng hoá được bán cho người nhập khẩu với giá thấp hơn tổng chi phí
của hàng hoá. Riêng với trường hợp nhập khẩu từ nước không có nền kinh tế thị
còn 20%, sản xuất động cơ nổ thị phần giảm từ 50% xuống còn 10%
Sản xuất quạt điện thị phần giảm từ 80xuống 20%. Sản lượng chỉ còn đạt 20% so
với năng lực sản xuất. Giá bị giảm đi 150.000đ/chiếc.
Ngành sản xuất rượu bị mất 90% thị phần cho hàng ngoại. Hai nhà máy sản xuất
rượu bia lớn nhất là rượu Bình Tây phải đóng cửa, còn rượu Hà Nội chỉ còn đạt
khoảng 10% công suất.
Như vậy việc bán phá giá hàng nhập khẩu đã gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc
độ phát triển của nền kinh tế, cùng với nó là sự đình trệ, bên bờ vực phá sản hoặc
giải thể của một số xí nghiệp không còn khả năng thanh toán.
2.3.2. Những thiệt hại về mặt xã hội
24
Sự đình trệ sản xuất của hàng loạt các xí nghiệp cùng với sự giải thể, bên bờ vực
phá sản của một số xí nghiệp đã gây ra tình trạng thất nghiệp gia tăng dẫn đến thu
nhập giảm, cùng với nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng.
Người tiêu dùng phải sử dụng những loại hàng hoá kém phẩm chất, quá hạn, hàng
giả, thậm chí hàng độc hại từ nước ngoài nhập vào gây nguy hại cho sức khoẻ của
người tiêu dùng.
Bán phá giá, thu được lợi nhuận lớn, do đó mà tình trạng buôn lậu, trốn thuế, gian
lận thương mại ngày càng gia tăng. Một số cán bộ có chức có quyền do hám lơị đã
tiếp tay cho bọn tội phạm làm tha hoá đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp, gây ra
những thiệt hại lớn đối với xã hội. Tiêu biểu là vụ Tân Trường Sanh ở thành phố
Hồ Chí Minh năm 1997 đã tiếp tay cho bọn buôn lậu, với trị giá hàng lên tới 25 tỷ
đồng, bọn tội phạm đã sử dụng kho hàng của quân đội để cất giữ hàng hoá.
Đứng trước những thiệt hại này, một số câu hỏi cần thiết phải đằt ra là chúng ta
phải có phương án “chiến đấu” như thế nào với việc hàng ngoại bán phá giá hay chỉ
có một điệp khúc “đề nghị Nhà nứơc cấm nhập hàng ngoại”?. Trong khi đó đến
năm 2006, thời hạn thực hiện giảm thuế theo Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu