Cảnh báo từ các bệnh lý mạch máu não
(Kỳ II)
Kỳ II: Thiếu máu não cục bộ và nhồi máu não
Hiện tượng này là do giảm dòng máu trong nhiều giây hoặc một vài phút.
Nếu dòng máu này ngưng chảy lâu hơn một vài phút thì sẽ gây ra nhồi máu não.
Nguyên nhân do vật nghẽn mạch từ tim hay các mạch máu lân cận di chuyển đến.
Nhận diện nhồi máu não
Trong vòng 10 giây sau khi dòng máu não ngưng chảy thì xảy ra rối loạn
chuyển hóa mô não. Nếu tuần hoàn não được phục hồi thì các rối loạn chức năng
này cũng được phục hồi hoàn toàn ngay. Nếu kéo dài một vài phút thì sẽ có
thương tổn thần kinh. Cùng với sự phục hồi lại dòng máu não thì việc phục hồi
chức năng phải mất nhiều phút hay nhiều giờ, và có thể không hoàn toàn. Ngoài
ra, trong quá trình tuần hoàn não suy giảm thì các thành phần trong máu có thể
lắng đọng, nội mô mao mạch có thể bị phù nề và dòng máu không thể tự tái lập lại
được kể cả khi nguyên nhân chính gây suy giảm tưới máu não đã được điều chỉnh
lại (hiện tượng không có dòng chảy). Nếu thời gian thiếu máu cục bộ kéo dài hơn
thì sẽ gây hoại tử mô rõ ràng. Phù não xuất hiện và tiến triển trong 2-4 ngày tiếp
theo. Nếu vùng nhồi máu mà lớn thì sự phù nề này có thể gây hiệu ứng khối đáng
kể với tất cả các hậu quả kèm theo.
Thiếu máu cục bộ do xơ vữa động mạch
Xơ vữa thường nặng nhất tại chỗ phân nhánh của các động mạch, thường
ảnh hưởng tới gốc của động mạch cảnh trong ở cổ và gốc của các động mạch lớn
và nhỏ trong sọ. Mặc dù những người bị vữa xơ động mạch thường hay bị đột qụy
nhất, song mối tương quan này chỉ tương đối. Có những bệnh nhân bị nhồi máu
lớn lại có bệnh tối thiểu, và có những bệnh nhân không có một triệu chứng thiếu
máu cục bộ nào lại bị một hoặc nhiều tắc nghẽn lớn ở động mạch não.
Các mảng xơ vữa có thể gây hẹp động mạch, tạo ra một tắc nghẽn huyết
động học của dòng máu. Nếu sự giảm lưu thông máu não không quá trầm trọng thì
sẽ gây thiếu máu cục bộ thoảng qua hoặc thường trực. Ngoài ra, các vật nghẽn
mạch (các mảng xơ vữa bong ra khỏi thành mạch, trở thành vật tắc nghẽn hoặc
theo vị trí bị tắc nghẽn và sự toàn vẹn của tuần hoàn nhánh bên. Biểu hiện thường
gặp nhất là đột nhiên xuất hiện liệt nhẹ nửa người ở những người trung niên. Tuy
nhiên, bất kỳ một triệu chứng nào của loạn chức năng não đều có thể xảy ra. Các
triệu chứng và dấu hiệu của bệnh thuộc hệ động mạch cảnh thường ảnh hưởng
nhiều nhất đến sự cung cấp máu của động mạch não giữa và bệnh nhân có thể bị
liệt nhẹ nửa người bên đối diện, giảm cảm giác và bán manh. Nếu bán cầu não ưu
thế bị tổn thương thì thường xuất hiện mất ngôn ngữ ở mức độ nhất định.
Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán đột qụy dựa vào bệnh sử và khám thực thể, kèm theo những xét
nghiệm máu và các thăm dò chẩn đoán hình ảnh như: chụp hình não (chụp cắt lớp
vi tính và cộng hưởng từ), siêu âm Doppler động mạch, chụp mạch máu não (chụp
cộng hưởng từ và chụp Xquang mạch não).
Điều trị
Điều trị dự phòng: Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như: lớn tuổi, tiền sử
gia đình có người bị đột qụy, đái tháo đường, tăng huyết áp, hút thuốc lá,
cholesterol máu cao
Phẫu thuật: Cắt bỏ lớp áo trong động mạch cảnh hay can thiệp tạo hình
động mạch (nong động mạch bằng bóng, đặt giá đỡ stent) có giá trị ở những người
bị hẹp khít động mạch cảnh (hẹp 70-99% khẩu kính lòng mạch) và có triệu chứng.
Xử trí cấp cứu: Khi nhồi máu não xảy ra thì mục tiêu trước mắt là bảo đảm
tưới máu ở vùng thiếu máu cục bộ được tối ưu. Ngoài ra cần ngăn chặn các biến
chứng thường gặp ở bệnh nhân nằm liệt giường như nhiễm khuẩn (viêm phổi,
nhiễm khuẩn tiết niệu và da) và huyết khối tĩnh mạch sâu kèm thuyên tắc động
mạch phổi (nhồi máu phổi). Cần sử dụng các thuốc chống phù não như manitol và
dextran trọng lượng phân tử thấp truyền tĩnh mạch. Sử dụng các thuốc gây giãn
mạch để tăng cường tuần hoàn não.
Phục hồi cho bệnh nhân đột qụy: Là một khâu quan trọng bao gồm liệu
pháp vật lý, việc làm và lời nói. Việc này nhằm giảng giải cho bệnh nhân và gia
đình về thiếu hụt thần kinh của bệnh nhân, ngăn chặn những biến chứng do nằm
bất động gây ra như viêm phổi, loét da do tỳ đè, co cứng cơ, cứng khớp và động