Thế giới Phẳng
TÓM TẮT LỊCH SỬ
THẾ KỈ HAI MƯƠI MỐT
The World Is Flat
A BRIEF HISTORY OF
THE TWENTY-FIRST CENTURY
Thomas L. Friedman
3
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
Những người dịch:
Nguyễn Quang A, Cao Việt Dũng, Nguyễn Tiên Phong
4
CÙNG TÁC GIẢ
From Beirut to Jerusalem (1989)
The Lexus and the Olive Tree (1999)
[Chiếc Lexus và Cây Ôliu (NXB. Khoa học Xã Hội 2005)]
Longtitudes and Attitudes (2002)
5
THOMAS L. FRIEDMAN
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
Tóm tắt Lịch sử Thế kỉ Hai mươi Mốt
Farrar, Straus and Gioux / New York
6
Tặng Matt
và Kay
và Ron
7
Mục Lục
Lời giới thiệu
Thế giới Trở thành Phẳng Thế nào
Chỉ mục / 475
9
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười ba
*
của tủ sách SOS
2
, cuốn
Thế giới Phẳng của Thomas L. Freedman. Cuốn sách được in và
phát hành lần đầu vào tháng 4-2005. Đây là cuốn sách thứ tư của
Freedman, cuốn thứ hai, Xe Lexus và Cây Ôliu, vừa được Nhà xuất
bản Khoa Học Xã hội xuất bản bằng tiếng Việt. T. L. Freedman là
nhà báo nổi tiếng của tờ New York Times, đi nhiều, gặp gỡ với rất
nhiều nhân vật nổi tiếng, với con mắt hết sức sắc sảo, ông trình bày
những vấn đề toàn cầu hoá rất súc tích và sinh động, ông trình bày
những vấn đề khô khan, khó hiểu một cách sáng sủa, dí dỏm, dùng
nhiều ẩn dụ giúp bạn đọc lĩnh hội vấn đề một cách dễ dàng.
Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà chính trị, các nhà
hoạch định chính sách, vì nó trình bày những thách thức của thế
giới phẳng đối với Mĩ, với thế giới đang phát triển, với các công ti,
nên các loại độc giả này sẽ có thể thấy thông tin và ý tưởng của
Freedman gây kích thích. Các học giả chắc sẽ học được cách trình
bày đơn giản nhiều vấn đề phức tạp. Tôi nhiệt thành khuyên giới
trẻ và các doanh nhân hãy đọc cuốn sách này, vì nó sẽ bổ ích cho
họ để xác định lại mình trong học tập, khởi nghiệp, học và làm việc
suốt đời. Tất nhiên cuốn sách cũng bổ ích cho tất cả những ai quan
tâm đến tương lai, việc làm, công nghệ, khoa học, và sáng tạo.
Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác
và dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót.
Phần chỉ mục nội dung, ở mỗi mục chính (và cả ở mục phụ nếu
thích đánh dấu sao (
*
) ở cuối trang là của người dịch. Trong văn
bản đôi khi người dịch có đưa thêm từ hay cụm từ để cho câu được
rõ nghĩa, phần đó được đặt trong dấu [như thế này]. Bản dịch chắc
còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng thứ, và chỉ
bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời sống, 54
Hoàng Ngọc Phách Hà Nội [25/B7 Nam Thành Công], hoặc qua
điện thư hay
09-2005
Nguyễn Quang A
11
l[as]b
Thế giới
Trở thành Phẳng
Thế nào
4
l[as]b
MỘT
Khi Tôi Còn Đang Ngủ
Tâu các Hoảng tử, với tư cách những người Công giáo Cơ đốc, và các
hoàng tử những người yêu mến và thúc đẩy niềm tin Công giáo linh
thiêng, và là những kẻ thù của học thuyết Mohamet, và của mọi sự sùng
bái thần tượng và dị giáo, đã quyết định cử tôi, Christopher Columbus,
đi đến các miền nói trên của Ấn Độ, để xem các hoàng tử, nhân dân, và
các vùng đất ấy, và để tìm hiểu tính khí của họ và phương pháp thích
hợp nhằm cải biến họ theo niềm tin linh thiêng của chúng ta; và hơn
nữa đã chỉ dẫn rằng tôi không được đi bằng đường bộ theo hướng
Đông, như lệ thường, mà bằng đường phía Tây, theo hướng mà đến nay
chúng ta không có bằng chứng chắc chắn nào rằng đã có bất cứ ai đi.
cách cho cả Columbus và nền quân chủ Tây Ban Nha trở nên giàu
có và hùng mạnh. Khi Columbus căng buồm, hiển nhiên ông đã
cho rằng Trái đất tròn, đó là vì sao ông lại tin chắc rằng ông có thể
đến Ấn Độ bằng cách đi về phương tây. Tuy nhiên, ông đã tính sai
quãng đường. Ông nghĩ Trái Đất là một quả cầu nhỏ hơn. Ông
cũng đã không dự kiến gặp một vùng đất rộng trước khi ông đến
được Đông Ấn. Tuy nhiên, ông đã gọi các thổ dân mà ông đã gặp ở
thế giới mới là các “Indian-dân da đỏ” [những người Ấn Độ]. Quay
về nhà, tuy thế, Columbus đã có thể nói cho những người đỡ đầu
ông, Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabella, rằng mặc dù ông không
thấy Ấn Độ, ông có thể xác nhận rằng thế giới quả thực tròn.
Tôi bắt đầu đi Ấn Độ theo đúng hướng đông, qua Frankfurt. Tôi
dùng Lufthansa với vé hạng thương gia. Tôi biết chính xác hướng
mình đi nhờ bản đồ GPS hiện trên màn hình thòi ra từ ngăn của ghế
ngồi trên máy bay. Tôi hạ cánh an toàn và đúng giờ. Tôi cũng đã
gặp những người được gọi là Indian. Tôi cũng đã đi tìm nguồn giàu
có của Ấn Độ. Columbus đã tìm phần cứng – các kim loại quý, tơ
lụa, và gia vị - nguồn giàu có trong thời ông. Tôi đã tìm phần mềm,
năng lực trí óc, các thuật giải phức tạp, các công nhân tri thức, các
call center [trung tâm phục vụ khách hàng qua điện thoại], các giao
thức truyền, những đột phá về kĩ thuật quang học – các nguồn giàu
có của thời chúng ta. Columbus đã vui sướng biến những người
Indian ông gặp thành các nô lệ, một quỹ lao động chân tay tự do.
Tôi chỉ muốn hiểu vì sao những người Indian tôi gặp lại lấy việc
làm của chúng ta, vì sao họ trở thành một quỹ quan trọng như vậy
4
KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ
cho outsourcing [thuê làm ngoài] dịch vụ và việc làm công nghệ
thông tin (CNTT) từ Hoa Kì và các nước công nghiệp khác.
Columbus có hơn một trăm người trên ba tàu của ông; tôi có một
ti Mĩ hay châu Âu; trong các cao ốc khác, họ thực hiện những công
việc hậu trường của các công ti siêu quốc gia lớn đặt cơ sở ở Mĩ và
châu Âu - mọi thứ từ bảo trì máy tính đến các đề án nghiên cứu cụ
L
5
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
thể đến trả lời các cuộc gọi của khách hàng từ khắp nơi trên thế
giới. An ninh là chặt, các camera theo dõi các cửa, và nếu anh làm
việc cho American Express, anh không thể đi vào cao ốc quản lí
các dịch vụ và nghiên cứu cho General Electric. Các kĩ sư Ấn Độ
trẻ, nam và nữ, đi nhanh nhẹn từ cao ốc này sang cao ốc kia, lủng
lẳng các thẻ ID [nhận dạng]. Một người có vẻ như có thể lo các
khoản thuế của tôi. Người khác có vẻ như cô có thể tháo rời máy
tính của tôi. Và người thứ ba có vẻ như cô ta đã thiết kế nó!
Sau khi ngồi cho một cuộc phỏng vấn, Nilekani đã dẫn nhóm TV
chúng tôi dạo quanh trung tâm hội nghị toàn cầu của Infosys- tầng
zero của công nghiệp outsourcing Ấn Độ. Nó là một phòng sâu
thẳm lát ván ô gỗ nhìn giống một phòng học được xếp thành dãy từ
một trường luật Ivy League. Ở một đầu có một màn hình đồ sộ cỡ
bức tường và ở trên cao có các camera trên trần cho hội nghị từ xa.
“Đây là phòng hội nghị của chúng tôi, đây có lẽ là màn hình lớn
nhất châu Á - gồm bốn mươi màn hình số [gộp lại],” Nilekani tự
hào giải thích, chỉ lên màn hình TV lớn nhất tôi đã từng thấy.
Infosys, ông nói, có thể tổ chức một cuộc hội nghị ảo của những
người chơi chủ chốt của toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của nó
cho bất cứ dự án nào vào bất cứ lúc nào trên màn hình siêu cỡ đó.
Như thế các nhà thiết kế Mĩ của họ có thể nói chuyện trên màn
hình với các nhà viết phần mềm Ấn Độ và các nhà sản xuất Á châu
của họ cùng một lúc. “Chúng tôi có thể ngồi ở đây, ai đó từ New
York, London, Boston, San Francisco, tất cả đều trực tiếp [live]. Và
muốn nói là các nước như Ấn Độ bây giờ có khả năng cạnh tranh vì
lao động tri thức toàn cầu như chưa từng bao giờ có - và rằng Mĩ
tốt hơn hãy sẵn sàng cho điều này. Mĩ bị thách thức, nhưng, ông
nhấn mạnh, sự thách thức sẽ là tốt cho Mĩ bởi vì chúng ta luôn sung
sức nhất khi bị thách thức. Khi tôi rời khu Infosys về Bangalore tối
hôm ấy và bị xóc suốt dọc đường ổ gà, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về
cụm từ đó: “Sân chơi đang được san phẳng”.
Cái Nandan nói, tôi nghĩ, là sân chơi đang được san phẳng…
Được san phẳng? Được san phẳng? Trời ơi, ông ta nói với tôi thế
giới là phẳng!”
Tôi ở đây, ở Bangalore – hơn 500 năm sau khi Columbus vượt
qua đường chân trời, dùng công nghệ hàng hải thô sơ của thời ông,
và trở về an toàn để chứng minh dứt khoát rằng thế giới tròn – và
một trong những kĩ sư tinh nhanh nhất Ấn Độ, được đào tạo tại học
viện kĩ thuật hàng đầu của Ấn Độ và được hỗ trợ bởi công nghệ
hiện đại nhất hiện nay, về cơ bản đã nói với tôi là thế giới này
phẳng, phẳng như màn hình mà trên đó ông ta có thể chủ trì cuộc
họp toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của mình. Thậm chí lí thú
hơn, ông biểu dương sự phát triển này như một điều tốt, như cột
mốc mới trong sự phát triển của loài người và một cơ hội lớn cho
Ấn Độ và thế giới – một sự thực đã khiến thế giới chúng ta phẳng!
Ngồi đằng sau chiếc xe đó, tôi đã viết vội vàng bốn từ đó vào sổ
tay của mình: “Thế giới là phẳng”. Ngay khi viết chúng, tôi nhận ra
rằng đấy là thông điệp cơ bản của mọi thứ tôi đã thấy và đã nghe ở
7
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
Bangalore trong hai tuần làm phim. Sân chơi cạnh tranh toàn cầu
được san bằng. Thế giới được san phẳng.
Khi tôi nhận rõ điều này, cả hứng khởi và sự kinh hãi tràn đầy tôi.
Nhà báo trong tôi hứng khởi khi đã tìm thấy một khung khổ để hiểu
hoá và khai thác sự căng thẳng giữa các lực “Lexus” của sự hội
nhập kinh tế và các lực “Cây Ô liu” của bản sắc và chủ nghĩa dân
tộc – do đó cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu của tôi ra đời 1999. Song
sau 11/9, các cuộc chiến tranh cây ô liu đã ám ảnh tôi hoàn toàn.
8
KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ
Tôi dành hầu hết thời gian của mình chu du trong các thế giới Ả
Rập và Hồi giáo. Vào các năm đó tôi đã mất dấu vết toàn cầu hoá.
Tôi đã lại tìm thấy vết đó trên hành trình của tôi đến Bangalore
tháng 2 năm 2004. Một khi đã tìm thấy, tôi nhận ra rằng có cái gì
đó thật sự quan trọng đã xảy ra trong khi tôi gắn bó với các lùm cây
ô liu của Kabul và Baghdad. Toàn cầu hoá đã đi đến một mức mới
hoàn toàn. Nếu bạn đặt cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu và cuốn sách
này lại với nhau, bạn sẽ đi đến kết luận lí lẽ lịch sử khái quát là đã
có ba kỉ nguyên lớn của toàn cầu hoá. Thời đại đầu kéo dài từ
1492- khi Columbus dương buồm, mở ra sự giao thương giữa Thế
giới Cũ và Thế giới Mới – cho đến khoảng 1800. Tôi sẽ gọi thời
đại này là Toàn cầu hoá 1.0. Nó đã làm thế giới co lại từ một kích
thước lớn thành cỡ trung bình. Toàn cầu hoá 1.0 là về các nước và
sức mạnh cơ bắp. Tức là, trong Toàn cầu hoá 1.0 tác nhân then chốt
của sự thay đổi, động lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu đã là
nước bạn có bao nhiêu cơ bắp – bao nhiêu sức cơ bắp, bao nghiêu
sức ngựa, sức gió, hay, muộn hơn, sức hơi nước – và bạn đã có thể
triển khai nó sáng tạo đến thế nào. Trong kỉ nguyên này, các nước
và các chính phủ (thường được tôn giáo hay chủ nghĩa đế quốc hay
sự kết hợp của cả hai xúi giục) đã dẫn đường phá bỏ các bức tường
và nối chặt thế giới lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu.
Trong Toàn cầu hoá 1.0, các câu hỏi chủ yếu là: Nước tôi hợp với
sự cạnh tranh và các cơ hội toàn cầu ở chỗ nào? Làm sao tôi có thể
đi toàn cầu và cộng tác với những người khác thông qua nước tôi?
thống năm 1992, hầu như không ai ngoài chính phủ và giới hàn lâm
có e-mail, và khi tôi viết Xe Lexus và Cây Ô liu năm 1998, Internet
và thương mại điện tử vừa mới cất cánh.
Phải, chúng đã cất cánh – cùng với nhiều thứ khác nữa đã cùng
đến trong khi tôi ngủ. Và đó là lí do vì sao tôi lí lẽ trong cuốn sách
này rằng vào khoảng năm 2000 chúng ta đã bước vào một kỉ
nguyên mới hoàn toàn: Toàn cầu hoá 3.0. Toàn cầu hoá 3.0 làm thế
giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ bé tí và đồng thời san bằng sân chơi. Và
trong khi động lực trong Toàn cầu hoá 1.0 là các nước tiến hành
toàn cầu hoá và động lực trong Toàn cầu hoá 2.0 là các công ti tiến
hành toàn cầu hoá, động lực trong Toàn cầu hoá 3.0 - thứ cho nó
đặc trưng độc nhất vô nhị - là năng lực mới tìm thấy cho các cá
nhân để cộng tác và cạnh tranh toàn cầu. Và cái đòn bẩy cho phép
các cá nhân và các nhóm đi toàn cầu dễ đến vậy và suôn sẻ đến vậy
không phải là sức ngựa, không phải là phần cứng, mà là phần mềm-
tất cả các loại ứng dụng mới – cùng chung với sự sáng tạo ra một
mạng cáp quang toàn cầu biến tất cả chúng ta thành láng giềng sát
vách. Bây giờ các cá nhân phải, và có thể, hỏi, Tôi hợp với cạnh
tranh và các cơ hội toàn cầu ngày nay ở chỗ nào, và làm sao tôi có
thể, tự mình, cộng tác với những người khác một cách toàn cầu?
Song Toàn cầu hoá 3.0 không chỉ khác các kỉ nguyên trước ở chỗ
nó làm thế giới co lại và phẳng thế nào và nó trao quyền cho các cá
nhân ra sao. Nó khác ở chỗ Toàn cầu hoá 1.0 và Toàn cầu hoá 2.0
chủ yếu do các cá nhân và doanh nghiệp Âu Mĩ dẫn dắt. Tuy Trung
10
KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ
Quốc thực sự là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thế kỉ mười tám,
chính các nước, các công ti, những người thăm dò phương Tây tiến
hành phần lớn việc toàn cầu hoá và định hình hệ thống. Nhưng về
sau này, điều này sẽ ngày càng ít đúng hơn. Bởi vì nó làm thế giới
cười. Anh ta quá lịch sự để nói - rằng anh ta có thể là kế toán viên
J
11
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
của tôi rồi, hay đúng hơn kế toán viên của của kế toán viên của tôi,
nhờ sự bùng nổ về outsourcing việc chuẩn bị thuế.
“Điều này xảy ra như chúng ta nói”, Rao bảo, anh quê ở Mumbai,
trước là Bombay, hãng của anh, MphasiS, có một đội các kế toán
viên Ấn Độ có khả năng làm công việc kế toán được outsource từ
bất cứ bang nào của Mĩ và chính phủ liên bang. “Chúng tôi liên kết
với nhiều hãng CPA [kiểm toán viên (công) có chứng chỉ] cỡ nhỏ
và vừa ở Mĩ”.
“Ý anh nói giống kế toán viên của tôi?” tôi hỏi. “Vâng, giống kế
toán viên của anh”, Rao nói với một nụ cười. Công ti của Rao đã đi
tiên phong về một phần mềm work flow [luồng công việc] với một
định dạng chuẩn làm cho outsourcing khai thuế rẻ và dễ. Toàn bộ
quá trình bắt đầu, Jerry giải thích, với một kế toán viên ở Hoa Kì
quét các tờ khai thuế năm ngoái của tôi, cộng với các bản kê khai
W-2, W-4, 1099, tiền thưởng, cổ phiếu của tôi- mọi thứ- vào một
máy chủ, đặt ở California hay Texas. “Bây giờ kế toán viên của
anh, nếu anh ta xử lí thuế của anh ở hải ngoại, biết rằng anh thích
không cho (ai đó ở ngoài nước) biết họ (tên) hay số An sinh Xã hội
của anh, thì anh ta có thể chọn giữ kín thông tin đó”, Rao nói. “Các
kế toán viên ở Ấn Độ [dùng mật khẩu] gọi tất cả thông tin thô một
cách trực tiếp từ máy chủ ở Mĩ, và họ hoàn tất các tờ khai thuế của
anh, với việc anh vẫn giấu tên. Tất cả các số liệu không ra ngoài
Hoa Kì để tuân thủ các quy chế riêng tư… Chúng tôi coi việc bảo
vệ dữ liệu và sự riêng tư rất nghiêm túc. Kế toán viên ở Ấn Độ có
thể nhìn thấy số liệu trên màn hình của mình, nhưng anh ta không
thể tải nó xuống hay in nó ra – chương trình của chúng tôi không
hãng kế toán [Mĩ] cỡ trung bình đã tiếp cận tôi, và họ nói rằng họ
không thể đủ sức để đưa ra các hoạt động outsourcing lớn về thuế
đến Ấn Độ, nhưng các gã [công ti] lớn có thể, và [những gã vừa]
muốn vượt họ. Vì lẽ đó chúng tôi đã phát triển một sản phẩm phần
mềm gọi là VTR – Virtual Tax Room: Buồng Thuế Ảo- để cho
phép các hãng kế toán cỡ vừa này dễ dàng outsource khai thuế.”
Các hãng cỡ vừa này “có được một sân chơi bằng phẳng hơn, mà
trước đây họ bị từ chối,” Jerry nói. “Đột nhiên họ có thể tiếp cận
đến cùng các lợi thế về quy mô mà các gã lớn hơn đã luôn có.”
Có phải thông điệp cho những người Mĩ, “Má, đừng để các con
má lớn lên đi làm kế toán viên?” Tôi hỏi.
Không thật vậy, Rao nói. “Cái mà chúng tôi làm là làm công việc
tạp nhạp. Anh biết cần cái gì để chuẩn bị một tờ khai thuế? Việc
làm rất ít sáng tạo. Đấy là cái sẽ chuyển ra hải ngoại”.
“Cái gì sẽ ở lại Mĩ?” Tôi hỏi.
“Kế toán viên muốn ở lại trong nghề tại Mĩ sẽ là người tập trung
vào nghĩ ra các chiến lược sáng tạo phức hợp, như tránh thuế hay
né tránh thuế, quản lí các quan hệ khách hàng”, Rao nói. Anh hay
chị ta sẽ bảo các khách hàng của mình, ‘Tôi đã khiến công việc tạp
nhạp được làm rất hiệu quả. Bây giờ hãy nói về làm thế nào chúng
tôi quản lí tài sản của anh và anh sẽ làm gì cho lũ trẻ của anh. Anh
có muốn để một số tiền nào đó trong các quỹ quản thác [trust] của
13
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
mình?’ Nó có nghĩa là có các thảo luận chất lượng-thời gian với
các khách hàng hơn là chạy vòng quanh giống những con gà với
đầu bị cắt đứt từ tháng Hai đến tháng Tư, và thường đệ đơn xin gia
hạn đến tháng Tám, bởi vì họ đã không có chất lượng thời gian với
các khách hàng.”
Đánh giá từ một tiểu luận trong tạp chí Accounting Today (7
cùng tôi có bằng CPA. Tôi làm việc ở một hãng kế toán lớn, làm
nhiều việc thông thường. Tôi hiếm khi gặp khách hàng. Họ giữ tôi
14
KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ
ở đằng sau. Nhưng đó là một sinh kế tử tế và về cơ bản hãng vừa
lòng với tôi. Cái gì sẽ xảy ra với tôi trong hệ thống này?
“Đó là một câu hỏi hay,” Rao nói. “Chúng ta phải chân thật về
nó. Chúng ta đang ở giữa một sự thay đổi công nghệ to lớn, và khi
bạn sống trong một xã hội ở đỉnh của sự thay đổi đó [như Mĩ], khó
để tiên đoán. Dễ tiên đoán cho ai đó sống ở Ấn Độ. Trong mười
năm chúng tôi sẽ làm nhiều thứ đang được làm ở Mĩ ngày nay.
Chúng tôi có thể dự đoán tương lai của mình. Nhưng chúng tôi ở
sau các bạn. Các bạn xác định tương lai. Mĩ luôn luôn ở trên đỉnh
của làn sóng sáng tạo mới… Cho nên là khó để nhìn vào mắt kế
toán viên đó và nói đây là cái sẽ là. Chúng ta không được tầm
thường hoá điều đó. Chúng ta phải xử lí nó và nói về nó một cách
chân thật … Bất cứ hoạt động nào mà chúng ta có thể số hoá và
phân li chuỗi giá trị, và di chuyển công việc đi đó đây, sẽ được di
chuyển đi. Ai đó sẽ nói, ‘Ừ, nhưng anh không thể phục vụ tôi một
miếng thịt nướng’. Đúng, nhưng tôi có thể làm việc đặt trước bàn
của anh ngồi ở bất cứ đâu trên thế giới, nếu quán ăn không có một
người phụ trách. Chúng tôi có thể nói, ‘Vâng, ông Friedman, chúng
tôi có thể dành cho ông một bàn gần cửa sổ’. Nói cách khác, có
những phần của việc đi ăn cơm hiệu mà chúng ta có thể phân li và
outsource. Nếu bạn quay lại và đọc các sách giáo khoa kinh tế học
cơ bản, chúng sẽ bảo: Các hàng hoá được trao đổi, còn các dịch vụ
được tiêu thụ và sản xuất ở cùng chỗ. Và bạn không thể xuất khẩu
việc cắt tóc. Song chúng ta đang đến gần việc xuất khẩu cắt tóc,
phần việc hẹn. Bạn muốn cắt kiểu tóc gì? Bạn muốn thợ cắt nào?
Tất cả các thứ đó có thể và sẽ được một call center ở rất xa làm.”
cho rằng các radiologist ở đầu kia … phải được đào tạo ở Hoa
Kì và có các bằng, chứng chỉ và khả năng phù hợp… Các
nhóm thực hiện việc đọc ngoài giờ này được các radiologist Mĩ
thuê họ gọi là “các Cú ăn đêm – Nighthawks”.
Chúc tốt lành,
Bill
hờ trời tôi là một nhà báo và không phải là một kế toán viên
hay một radiologist. Không có outsourcing nào đối với tôi-
cho dù một số bạn đọc nào đó của tôi có thể muốn mục báo của tôi
có thể chuyển đi Bắc Triều Tiên. Ít nhất đó là cái tôi nghĩ. Sau đó
tôi nghe về hoạt động của Reuters ở Ấn Độ. Tôi đã không có thời
gian để thăm văn phòng Reuters ở Bangalore, nhưng tôi đã có khả
năng nắm được Tom Glocer, CEO của Reuters, để nghe ông đã làm
gì. Glocer là người đi tiên phong về outsourcing các yếu tố của
chuỗi cung tin thức.
N
Với 2.300 nhà báo quanh thế giới, ở 197 văn phòng, phục vụ một
thị trường bao gồm các nhà ngân hàng đầu tư, các nhà buôn bán
các công cụ phái sinh, các nhà môi giới chứng khoán, các báo, đài
phát thanh, truyền hình, và các đại lí Internet, Reuters đã luôn có
16