Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
HIỂU BIẾT HIỆN NAY VỀ BỆNH UNG THƯ
Nguyễn Chấn Hùng*
MỞ ĐẦU
Muốn phòng chống ung thư hiệu quả, mọi người
cần hiểu rõ căn bệnh này. Vài thập niên vừa qua,
thành quả nghiên cứu ở nhiều lónh vực đã đem lại sự
hiểu biết rất sâu rộng về ung thư. Các phương thức xử
trí hợp lý hơn, đa diện hơn và hiệu quả hơn. Tài liệu
này cố gắng cập nhật được các thành tựu nóng hổi,
làm tăng niềm tin vào cuộc chiến đấu chống căn
bệnh này. Bài báo cáo này chỉ xin đề cập đến vài
thành tựu nổi bật:
- Dòch tễ học ung thư hay là tình hình mắc bệnh
ung thư trên toàn thế giới và ở nước ta.
- Cơ chế sinh bệnh ung thư: gen và ung thư.
- Các phương pháp điều trò ung thư: các liệu pháp
mới được bổ sung vào kho vũ khí chống ung thư.
DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ
Con người thường bò các loại ung thư
gì? Hay là tình hình bệnh ung thư trên
toàn thế giới
Cơ quan quốc tế nghiên cứu ung thư (IARC) đã
cho một cái nhìn toàn diện về tình hình bệnh ung
thư trên thế giới phỏng đònh có khoảng 8,1 triệu
người mới bò ung thư vào năm 1990. Vào năm 1985
con số này là 7,6 triệu. Các loại ung thư thường gặp
tính chung hai giới nam nữ là : phổi 13%; dạ dày
10%; vú 10%; đại trực tràng (ruột già) 10%; gan 5,4%;
tuyến tiền liệt 5%; cổ tử cung 4,6% và thực quản 4%.
Lymphôm không
Hodgkin
Tụy tạng
Bệnh bạch cầu
Hốc miệng
Bọng đái
Các cơ quan khác
22
10
9
7
7
4
4
3
3
2
2
2
2
21
14
9
9
11
9
6
4
4
3
2
2
22
23
12
6
7
11
6
3
3
3
2
3
2
19
Ung thư dạ dày (bao tử)
Có khoảng 780.000 ca mới hàng năm trên
hành tinh chúng ta. Vi khuẩn Helicobacter Pylori
nhân gấp đôi nguy cơ ung thư bao tử, khoảng 30%
số ca xuất hiện ở các nước phát triển và 47% ở các
nước đang phát triển được coi là liên hệ với bệnh
nhiễm trùng này.
Ung thư vú
Được phỏng đònh là có khoảng 796.000 ca mới
vào năm 1990 và có cơ nguy là sẽ lên tới con số 1,2
triệu hàng năm trong vòng hai mươi năm.
các nước nghèo là 50%, thì tỉ lệ nầy sẽ là 40% cho
nhóm trên là 60% cho nhóm dưới vào 2010.
Những loại ung thư thường gặp ở nước ta
Từ năm 1995, chúng ta đã có được số liệu ghi
nhận ung thư quần thể tại Hà Nội và TP.Hồ Chí
Minh. Kết quả của việc ghi nhận này cho biết được có
bao nhiêu người mới được chẩn đoán ung thư trên
100.000 dân hàng năm hay là xuất độ (XĐ) ung thư
- Hai bản sau đây cho thấy mười loại ung thư thường
gặp ở Hà Nội và TP.HCM:
Møi Vò Trí Ung Thư Thường Gặp Tại Hà Nội Và TPHCM, 1998
TP. HỒ CHÍ MINH HÀ NỘI
Nam Nữ Nam Nữ
Số TT
Vò trí XĐ Vò trí XĐ Vò trí XĐ Vò trí XĐ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Gan
Phổi
Dạ dày
Đại trực tràng
Tuyến tiền liệt
5.6
5.2
3.8
3.1
3.0
Phổi
Dạ dày
Gan
Đại trực tràng
Vòm hầu
Thực quản
Da
Thanh quản
Tuyến tiền liệt
Khoang miệng
34.0
26.7
17.0
9.5
6.5
4.1
2.1
2.0
1.5
0.8
Vú
Dạ dày
Phổi
Đại trực tràng
Cổ tử cung
nhất. Hàng năm có xuất độ là 20.3, nghóa là có thêm
21 người bệnh mới trên 100.000 phụ nữ. Ở Thành
phố Hồ Chí Minh, loại ung thư này có xuất độ thấp
hơn nhiều 16.0, đứng hàng thứ hai. Ung thư cổ tử
cung là loại thường gặp nhất ở TP.HCM, với xuất độ
rất cao, vượt trội tất cả các loại ung thư ở nữ giới và
nam giới khác. Loại ung thư này hiện nay rất ít ở phụ
nữ miền Bắc. Chúng tôi đang cố gắng lý giải sự khác
biệt quan trọng và thú vò này bằng các công trình
nghiên cứu sắp tới.
Các loại ung thư thường gặp ở nam giới là các
loại khó trò, hầu hết được phát hiện trễ và cho tỉ lệ tử
vong cao: ung thư phổi, gan, bao tử. Nhưng các loại
này thì lại có thể phòng ngừa được: phòng chống tác
hại thuốc lá, loại bỏ viêm gan siêu vi gồm việc điều trò
và chủng ngừa. Đối với ung thư bao tử thì chế độ
dinh dưỡng có nhiều rau quả và thức ăn tươi được coi
là phòng ngừa. Điều này cũng đúng với ung thư đại –
trực tràng.
Đối với phụ nữ, ung thư cổ tử cung và ung thư vú
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngành
116
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
đều có thể phát hiện sớm và có thể trò tốt. Hiện nay
chúng ta có đủ phương tiện để chẩn đoán sớm và
điều trò rất hiệu quả. Ung thư cổ tử cung có thể phòng
ngừa được.
GEN VÀ UNG THƯ
vai trò kiểm soát sự sinh sản của tế bào và sự
chuyên biệt hóa của tế bào (các nhà chuyên môn
gọi là sự biệt hóa của tế bào). Khi một
prôtôoncogen bò đột biến (thay đổi) thành
oncogen, nó trở thành hoạt hóa thường xuyên mà
lẽ ra thì không được phép làm như vậy. Một khi
điều này xảy ra thì tế bào sinh sản quá nhanh, từ
đó dẫn đến ung thư, giống như cái đạp ga xe,
dính chặt không nhả ra được.
Người ta đã biết nhiều oncogen. Sau đây là các
oncogen được hiểu rõ nhất :
HER 2/NEU : Tên khác là ERB_B2, gặp ở vài loại ung thư vú
RAS : Gặp ở vài loại ung thư đại tràng, phổi…
MYC : Thấy ở vài loại ung thư phổi, lymphom
BCR – ABL : Cần cho sự phát triển của bệnh bạch cầu tủy
mạn
Nhờ các nhà khoa học biết thêm về các oncogen,
họ có thể làm ra các loại thuốc để ức chế hoặc ngăn
Ung Thư
117
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Tổng Quan
chận chúng. Có vài loại nhằm vào các oncogen đang
được triển khai như là các thuốc chống ung thư.
Các gen đè nén ung thư là gì ?
Các gen đè nén (hay kềm chế – tumor
suppressor genes) ung thư là các gen bình thường có
nhiệm vụ làm chậm sự phân bào, sửa chữa các lỗi
lầm của DNA và truyền lệnh cho tế bào khi nào thì
chết (một quá trình được biết như là cái chết được
dẫn điều trò ung thư ?
Các xét nghiệm phát hiện oncogen hoặc các đột
biến của các gen đè nén ung thư có thể giúp các bác
só xác đònh được người bệnh bò loại ung thư nào. Một
sự thay đổi đặc hiệu của gen có thể giúp tiên liệu
bệnh nhân nào có thể có dự hậu tốt hoặc xấu và bệnh
nhân nào nên được chọn loại trò liệu nào thì tốt hơn.
Một số xét nghiệm về các đột biến thì rất nhạy để tìm
xem ung thư có còn sót hay tái lại sau khi điều trò.
Các oncogen và các gen đè nén ung thư
có thể được dùng điều trò ung thư ?
Việc khám phá và hiểu rõ được các loại gen này
đã hướng tới việc phát triển các liệu pháp mới cho
ung thư. Nhiều nhà nghiên cứu rất lạc quan về tương
lai của các liệu pháp dùng oncogen và các gen đè nén
ung thư. Hiện có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng
đang tiến hành và hi vọng sẽ có nhiều liệu pháp tốt
hơn nữa.
CÁC LIỆU PHÁP CHỐNG UNG THƯ THẾ
HỆ MỚI
Hiện nay, phẫu trò, xạ trò và hóa trò là ba liệu pháp
chuẩn trong điều trò bệnh ung thư. Phẫu trò ung thư
được Halsted hệ thống vào cuối thế kỷ 19; xạ trò bắt
đầu với Henri Becquerel, Marie Curie vào đầu thế kỷ
20 và hóa trò chỉ mới manh nha sau Thế chiến II. Ba
liệu pháp này mỗi lúc được phát huy mạnh mẽ và đã
chứng tỏ là càng lúc càng có hiệu quả tốt cho người
bệnh. Nguyên lý kết hợp nhuần nhuyễn phẫu – xạ –
hóa trò hay là liệu pháp đa mô thức được vận dụng
cho kết quả tối ưu.
dòch hiệu quả hơn đang được triển khai.
Các vacxin kháng ung thư (các liệu pháp
miễn dòch chủ động đặc hiệu)
Hiện nay, các vacxin này đangđược thử nghiệm
lâm sàng với các bệnh nhân bò mêlanôm ác (ung thư
da loại hắc tố) ung thư tế bào thận, ung thư đại và
trực tràng, ung thư tuyến tiền liệt và các lymphôm
(ung thư hạch).
Các liệu pháp kháng thể đơn dòng hay là
liệu pháp miễn dòch thụ động
Trong loại liệu pháp miễn dòch thụ động này, các
kháng thể được sản xuất với số lượng lớn ở bên ngoài
cơ thể. Liệu pháp kháng thể đơn dòng (KTĐD) là liệu
pháp miễn dòch thụ động vì các kháng thể được sản
xuất tại các la-bô chớ không phải do hệ thống miễn
dòch của người bệnh và cũng vì chúng có thể vẫn có
hiệu quả ngay cả khi hệ thống miễn dòch của bệnh
nhân quá yếu. Các kiểu điều trò nầy không đòi hỏi hệ
thống miễn dòch của người bệnh có vai trò chủ động
chống lại ung thư.
Các KTĐD trơn
Cơ quan thức ăn và thuốc (FDA) của Hoa Kỳ đã
chấp thuận cho dùng các thuốc Rituxan (rituximab)
và Herceptin (trastuzumab). Rituxan được dùng điều
trò lymphô không Hodgkin tế bào B (một loại ung thư
lymphô). Herceptin được dùng cho ung thư vú giai
đoạn nặng. Đã có những kết quả phấn khởi. Liệu
pháp miễn dòch loại nầy đã giúp được một số người
bệnh khi các cách điều trò chuẩn hết hiệu quả. So với
các phương pháp hóa trò qui ước thì kháng thể đơn
nghiên cứu để dùng riêng lẽ hoặc kết hợp với nhau,
Ung Thư
119
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Tổng Quan
hoặc kết hợp với các liệu pháp khác như là hóa trò.
Vài loại LPNTĐ:
Các loại thuốc phân tử nhỏ còn được gọi là các
chất ức chế sự dẫn truyền tín hiệu. Glivec hay
Gleevec (STI – S71, hay là imatinib mesylate) là một
loại thuốc phân tử nhỏ được FDA phê chuẩn (năm
2002) để điều trò bướu mô đệm bao tử – ruột (một
loại ung thư hiếm gặp của đường tiêu hóa bao tử –
ruột) và vài loại bệnh bạch cầu tủy mạn. Glivec nhắm
vào các protein bất thường hay là các enzym; chúng
được sản sinh bên trong các tế bào ung thư và kích
thích sự tăng trưởng vô tổ chức – Iressa ( ZD1839)
hay là gefinitib được FDA công nhận trong điều trò
ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn tiến xa.
Thuốc này nhằm khống chế EGFR (epidermal growth
factor receptor – thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì),
thụ thể này bò sản xuất quá lố do nhiều loại tế bào
ung thư. Còn nhiều loại thuốc phân tử nhỏ đang được
thử nghiệm lâm sàng tại Hoa Kỳ. Erbitux
(Cetuximab) là một kháng thể đơn dòng nhắm vào
đích là EGFR. Erbitux cho thấy có vai trò hứa hẹn
trong điều trò ung thư đại trực tràng trong di căn.
Các thuốc gây chết tế bào bằng cách can thiệp
vào các protein dính líu tới quá trình này (còn gọi là
(Merck)
Cetuximab -12/2/2004 (FDA)
CĐĐT: Carcinôm đại tràng di căn, đã
thất bại với hóa trò
- Kết hợp với Irinotecan
KTĐD kháng EGFR
Iressa
(Astra
Zeneca)
Gefitinib -5/5/2003 (FDA)
CĐĐT: Ung thư phổi không tế bào
nhỏ, đã thất bại với phác đồ có
platinum hoặc docetaxel
KTĐD kháng EGFR
Avastin
(Roche)
Bevacizumab -26/2/2004 (FDA)
CĐĐT: Carcinôm đại trực tràng di căn,
thất bại với phác đồ IFL
- Thuốc kháng sinh mạch đầu tiên:
KTĐD kháng VEGF
Velcade
(Millenium
Pharma)
Bortezomib -13/5/2003 (FDA)
CĐĐT: Đa u tuỷ, đã điều trò 2 đợt hóa
trò không hiệu quả
- Ức chế proteasôm 26S → Gia tăng
sự chết tế bào
Tarceva
giống như bất cứ tế bào nào trong cơ thể, các tế bào
ung thư cần oxy và các chất dinh dưỡng để sống còn.
Các chất ức chế sinh mạch bỏ đói khối bướu bằng
cách cắt đường tiếp vận (các mạch máu), làm giảm
lượng oxy và các chất dinh dưỡng. Hậu quả của việc
bỏ đói là khối bướu sẽ tan dần đến kích thước thật
nhỏ và ngủ yên.
Các thuốc kháng sinh mạch đang là lãnh vực đầy
hấp dẫn đối với các người bệnh, các nhà nghiên cứu
và đông đảo quần chúng. Mới đây thuốc kháng sinh
mạch đầu tiên được FDA công nhận vào năm 2004 là
Avastin (Bevacizumab).
Các loại thuốc ức chế sinh mạch
Các liệu pháp gen dùng điều trò ung thư
Người ta đã bắt đầu làm cuộc thay đổi di truyền
(thay các gen bên trong tế bào), các tế bào vốn có
tính chất tự nhiên là nhắm đích vào các tế bào ung
thư. Sau đó đưa trả các tế bào này vào trong cơ thể,
tại đây chúng có thể hoạt động chống lại ung thư.
Các thử nghiệm lâm sàng hiện đang dùng phương
pháp nầy để điều trò mêlanôm ác.
Các tế bào ung thư có thể được lấy ra khỏi cơ thể
rồi được biến đổi di truyền nhằm gây một đáp ứng
miễn dòch mạnh. Khi đưa trả các tế bào nầy vào cơ
thể, người ta mong là chúng sẽ tác động như một
vacxin. Một số thử nghiệm trên người đang theo cách
này.
Ung Thư
121
di căn) - Đang thử nghiệm lâm sàng-Còn phải
nghiên cứu nhiều mới thành liệu pháp chữa trò.
Liệu pháp quang động học (photodynamic therapy
–PDT):
FDA công nhận từ năm 1995, dùng chất
photofrin trong quang động học để điều trò tạm bợ
ung thư thực quản nghẹt hoàn toàn hoặc một phần
mà tia lade ND.YAG không hiệu quả.
Vai trò của các liệu pháp mới
Các liệu pháp mới làm phong phú thêm nguyên
lý trò liệu đa mô thức
Các liệu pháp nhắm trúng đích
Ngăn chặn ung thư mà không giết bỏ ung thư
Hứa hẹn đưa tế bào ung thư trở lại bình thường
Xử lý ung thư một cách rốt ráo và dòu dàng
KẾT LUẬN
Thành quả của dòch tễ học mở ra những viễn
tượng mới: biết được các ung thư thường gặp để xây
dựng chiến lược phòng chống thích hợp; biết rõ các
nguyên nhân để phòng ngừa có hiệu quả.
Chỉ mới vài thập niên trở lại đây, sự hiểu biết về
ung thư đã có những đột phá ngoạn mục, nhờ các
thành tựu tuyệt vời trong lãnh vực nghiên cứu sinh
học ung thư. Điều đáng vui mừng là các kết quả thu
hoạch được từ các phòng thí nghiệm lại được chuyển
nhanh sang lónh vực ứng dụng lâm sàng.
Hy vọng chống lại ung thư một cách đúng mức
và có hiệu quả ngày càng vững chắc.