Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng sâu
rộng đến thị trường, tỷ giá, đầu tư và thương mại của nước ta. Tổng kết kinh tế năm
2009, ngoài những thành tích đáng trân trọng, tốc độ tăng trưởng là 5,2%, lạm phát
duy trì ở mức dưới hai con số, thì một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô tiếp tục xấu đi như nợ
chính phủ và nợ nước ngoài tăng cao, bội chi ngân sách tăng lên cả về con số tuyệt đối
lẫn theo tỷ lệ GDP, nhập siêu và cán cân thanh toán tài khoản vãng lai bị thâm hụt. Để
ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, trong năm 2009 Chính phủ đã tập
trung thực hiện cỏc gúi kích cầu đầu tư và tiêu dùng, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực
hiện các dự án, công trình trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Nhờ vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009 theo giá thực
tế ước tính đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP.
Để tiếp tục theo đúng định hướng đã chọn và đuổi kịp các nước trong khu vực, nước ta
cần huy động một lượng vốn lớn hơn để đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
của đất nước cũng như các lĩnh vực xã hội. Có thể có nhiều phương thức để huy động
vốn trong đó hệ thống ngân hàng là một trong những kênh huy động vốn hiệu quả của
đất nước. Thông qua các ngân hàng với nghiệp vụ huy động và cho vay, nguồn vốn
huy động từ tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế - xã hội để
chuyển tới những ngành, những lĩnh vực đang cần vốn đầu tư. Có thể nói, hệ thống
ngân hàng đã và đang làm rất tốt vai trò trung gian của nền kinh tế, góp phần huy động
và trung chuyển vốn nhàn rỗi trong xã hội cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Ngoài ra, huy động vốn là hoạt động quan trọng hàng đầu của ngân hàng.
Nhưng điều đáng quan tâm là làm thế nào để có thể huy động vốn một cách hiệu quả,
tạo nguồn vốn dồi dào phục vụ quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,
đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng ?
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như khó khăn của ngân hàng trong hoạt
động huy động vốn, em đã chọn đề tài : ô Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội ằ cho
chuyên đề thực tập của mình.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề này gồm ba phần :
giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện
các dịch vụ mới khác.
Còn nếu xem xét ngân hàng trên phương diện các hoạt động của ngân hàng thì
theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam quy định: “Ngõn hàng là loại hình tổ chức
tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân
hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toỏn”. Như vậy, ngân hàng là
tổ chức nhận tiền gửi để cho vay, không phải là tổ chức đi vay để cho vay.
Tóm lại, ngân hàng là tổ chức kinh tế đặc biệt với hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Hoạt động của nó có sự ảnh hưởng lớn đến các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, cá nhân
thông qua các hoạt động huy động tiền gửi, cho vay hay cung cấp các dịch vụ tài chính
khác. Để hoạt động trơ tru, công cụ duy nhất của ngân hàng chính là vốn.
1.1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên vốn của NHTM chủ yếu
là vốn bằng tiền. Vốn là điều kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển trong hoạt động
kinh doanh của các tổ chức kinh tế nói chung và của NHTM nói riêng. Vốn ngân hàng là
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
3
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
giá trị tiền tệ mà ngân hàng có được để thực hiện các hoạt động kinh doanh như cho vay,
đầu tư hoặc các dịch vụ kinh doanh khác nhằm đạt mục tiêu đã định .
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm: nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn tiền gửi, vốn đi
vay và các nguồn khác.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn ngân
hàng, còn lại được huy động từ nguồn bên ngoài. Với số vốn huy động được, NHTM sử
dụng nó để sinh lời ở những mức độ rủi ro khác nhau, để trang trải cho chi phí huy động
vốn, tích lũy cũng như phục vụ sự phát triển lâu dài.
năm 2010 là 3.000 tỷ đồng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD; với ngân
hàng chính sách, ngân hàng phát triển là 5.000 tỷ đồng; ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp
tác và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 3.000 tỷ đồng; với công ty tài chính là 500 tỷ
đồng; công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng.
Các ngân hàng sử dụng nguồn vốn hình thành ban đầu này để xây dựng cơ sở hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị, đầu tư công nghệ ngân hàng hiện đại…
• Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động của mỡnh, cỏc ngân hàng không ngừng gia tăng quy
mô vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau. Quy mô vốn chủ gia tăng giúp
ngân hàng có thể mở rộng cho vay và đầu tư, củng cố niềm tin với khách hàng, hơn nữa
là đủ sức chống đỡ lại tổn thất, thua lỗ cuối cùng. Có nhiều cách tăng vốn chủ sở hữu, có
thể là do lợi nhuận tăng thêm, do nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, cấp
thờm, gúp thờm…
- Lợi nhuận bổ sung vốn chủ sở hữu: khi làm ăn có lãi, ngân hàng thường có
xu hướng trích một phần lợi nhuận sau thuế bổ sung vào vốn chủ sở hữu. Đối với NHTM
hoạt động lâu năm, nguồn vốn bổ sung này có thể rất lớn.
- Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thờm, gúp thêm: ngân hàng cổ
phần có thể tăng vốn bằng phát hành thêm cổ phiếu (cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi),
các ngân hàng nhà nước thì có thể xin cấp thêm vốn, các ngân hàng liên doanh hay tư
nhân có thể gúp thờm. Bằng việc gia tăng vốn, ngân hàng có thể mở rộng quy mô hoạt
động, đổi mới trang thiết bị, hoặc đáp ứng yêu cầu tăng vốn chủ của Ngân hàng Nhà
nước.
• Các quỹ
Ngân hàng thường có nhiều loại quỹ với mục đích sử dụng khác nhau. Quỹ dự
phòng tổn thất được trích lập từ lợi nhuận hàng năm để bù đắp tổn thất xảy ra trong quá
trình kinh doanh. Quỹ bảo toàn vốn được trích lập nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới
tác động của lạm phát. Quỹ thặng dư vốn có được khi thị giá của cổ phiếu lớn hơn mệnh
giá cổ phiếu đú thỡ phần chênh lệch này được đưa vào quỹ này. Ngoài ra thỡ cỏc ngân
hàng còn có thể trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ đầu tư phát triển…
• Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng
lói, khụng hưởng lãi và được hoàn trả cho người gửi tiền.”
Ngay khi đi vào hoạt động, ngân hàng sẽ mở những tài khoản tiền gửi để giữ hộ,
thanh toán hộ cho khách hàng, như vậy ngân hàng đã huy động tiền từ dân cư và tổ chức
doanh nghiệp. Khi huy động vốn, ngân hàng phải trích một phần để dự trữ bắt buộc và dự
trữ đảm bảo thanh toán, số còn lại mới được sử dụng kinh doanh.
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
6
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay với sự xuất hiện rất
nhiều của các ngân hàng, các tổ chức phi ngân hàng, các ngân hàng phải đối mặt với
nguồn tiền gửi ngày càng khan hiếm. Để thu hút khách hàng, họ đã đưa ra mức lãi suất
cạnh tranh cùng với việc đa dạng hóa loại hình tiền gửi.
• Tiền gửi thanh toán
Với loại tiền gửi này, khách hàng được hưởng lãi suất rất thấp (thậm chí bằng
không) nhưng bù lại được hưởng các dịch vụ của ngân hàng như thanh toán tiền hàng
hóa, dịch vụ, rút tiền, chuyển tiền với chi phí thấp. Khách hàng mở loại tài khoản này với
mục đích thanh toán, giao dịch là chủ yếu. Tiền thu được có thể nhập vào tài khoản tiền
gửi thanh toán của khách hàng. Khi có nhu cầu rút tiền, ngân hàng phải thanh toán ngay
cho người thụ hưởng. Điều này có nghĩa là ngân hàng tuy phải trả vốn phí thấp song phải
đối mặt với nguồn vốn dễ biến động, nhạy cảm. Trước đây, chủ loại tài khoản tiền gửi
thanh toán chỉ được chi tiêu trong phạm vi số dư. Nhưng hiện nay, một số ngân hàng đã
kết hợp với tài khoản cho vay (thấu chi – chi trội trên số dư của tài khoản tiền gửi thanh
toán) để gia tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác. Để thu hút tiền gửi thanh toán,
ngân hàng phát triển rất nhiều sản phẩm tiện ớch giỳp khách hàng có nhiều sự lựa chọn.
Riêng sản phẩm thẻ đã có rất nhiều loại, phù hợp với nhiều đối tượng. Trong tương lai,
tiền gửi thanh toán có thể thay thế cho tiền mặt nhờ vào ưu điểm có thẻ sinh lãi, và đẩy
nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ. Khách hàng có thể sử dụng các dịch vụ tiện ích, còn ngân
hàng cú thờm vốn.
• Tiền gửi có kỳ hạn
của ngân hàng, là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Các khoản tiền gửi
phải dự trữ bắt buộc.
1.1.3. Nguồn đi vay
Có rất nhiều thời điểm mà ngân hàng tạm thời thừa hoặc thiếu vốn. Đó là khi ngân
hàng huy động được mà chưa cho vay hết, hay khi khách hàng cần vay vốn mà ngân
hàng không có đủ vốn, hoặc ngân hàng phải đi vay để đáp ứng nhu cầu chi trả. Khi đó,
ngân hàng có thể gửi tiền vào các tổ chức tín dụng khác khi thừa vốn, ngược lại đi vay
khi thiếu vốn. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng ngân hàng hoàn toàn chủ
động huy động về quy mô cũng như thời điểm vay. Ngân hàng có thể vay vốn từ Ngân
hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng khác, hoặc vay trên thị trường vốn.
• Vay Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại thường vay NHNN trong những những trường hợp cần
thiết như thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán. Trong trường hợp cấp bách, NHNN
còn đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với NHTM mất khả năng chi trả để đảm
bảo an toàn cho toàn hệ thống ngân hàng. Những khoản vay này phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách của NHNN khi muốn thắt chặt hay nới lỏng cung ứng tiền tệ. Tùy theo hình
thức và mục đích vay vốn, vốn vay NHNN có thể được chia thành các loại như sau:
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
8
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
Theo hình thức có
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: NHTM đem
thương phiếu, giấy tờ có giá xin tái chiết khấu. Chúng thường là các loại giấy tờ mà chủ
thể phát hành có uy tín cao, thời gian đáo hạn ngắn…Việc tái chiết khấu đối với NHTM
đã được giới hạn trong định mức.
- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu, giấy tờ có giá: NHTM
đem thương phiếu, giấy tờ có giá đến NHNN để đảm bao xin vay vốn.
Theo mục đích có
- Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn : là hình thức tài trợ vốn theo kế
hoạch, chỉ phân phối đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh.
của NHNN. Hợp đồng mua lại (repo) và mua lại đảo ngược (reverse repo) bản chất là
giao dịch đi vay và cho vay có kỳ hạn được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ. Các
thành viên sở hữu chứng khoán có thể thiếu tiền ở thời điểm nhất định, để đáp ứng nhu
cầu huy động vốn, có thể được hỗ trợ vốn ngày lập tức nếu đó cú thỏa thuận bán một
lượng chứng khoán cho thành viên khác và cam kết sẽ mua lại lượng chứng khoán đó sau
khoảng thời gian nhất định và với giá cao hơn giá bán ban đầu. Người bán chứng khoán
và cam kết mua lại số chứng khoán đó gọi là hợp đồng mua lại, còn người mua chứng
khoán rồi sau đó bán lại gọi là hợp đồng mua lại đảo ngược.
1.1.4. Các nguồn vốn khác
Nguồn vốn của ngân hàng còn bao gồm: nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và
nguồn khác.
• Nguồn ủy thác
Đây là nguồn vốn mà ngân hàng với tư cách ngân hàng đại lý nhận ủy thác cho
các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện đầu tư cho các chương trình, dự án. Các dịch
vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu
hộ… Trong thời gian thực hiện ủy thác, ngân hàng có thể tạm thời sử dụng vốn chưa giải
ngân hết theo kế hoạch hoặc vốn đã thu hồi chưa phải trả cho chủ đầu tư. Ngoài ra, thực
hiện các hợp đồng ủy thác, ngân hàng sẽ nhận được phí hoa hồng.
• Nguồn trong thanh toán
Ngân hàng có được nguồn vốn trong thanh toán khi làm trung gian thanh toán
trong nền kinh tế như séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ mở L/C… Đó là lượng tiền
đã được trích từ tài khoản của người trả nhưng chưa chuyển vào tài khoản người thụ
hưởng, hay số tiền trong thời gian chờ thanh toán.
• Nguồn khác
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
10
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
Ngoài ra ngân hàng cũn cú một số loại tiền như thuế chưa nộp, lương chưa trả,
thậm chí ngân hàng còn đứng ra làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp
hưởng phí hoa hồng… Nó đều làm tăng vốn cho ngân hàng.
11
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
nó quyết định quy mô nhận tiền gửi, vốn vay của ngân hàng. Nhưng nó lại không đủ để
để thực hiện các hoạt động tạo thu nhập cho ngân hàng như cho vay, đầu tư, cung cấp
dịch vụ ngân hàng. Vì vậy NHTM phải huy động vốn từ các nguồn bên ngoài. NHTM là
doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay mượn. Do đó vốn vừa là
phương tiện hoạt động vừa là đối tượng kinh doanh của NHTM. NHTM sử dụng vốn để
tiến hành hoạt động kinh doanh tạo lợi nhuận cho mình, tạo đà cho sự phát triển lâu dài.
• Vốn quyết định quy mô của ngân hàng trong hoạt động tín dụng và hoạt
động khác
Quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn.
Ngân hàng có vốn lớn sẽ dễ dàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng
đồng thời có khả năng tiếp cận với những dự án đầu tư lớn. Như vậy so với ngân hàng
nhỏ, ngân hàng trường vốn có khả năng đa dạng hóa các khoản mục đầu tư và cho vay
với nhiều đối tượng, kỳ hạn khác nhau trong phạm vi rộng lớn hơn. Ngân hàng có vốn
lớn có thể mở rộng phạm vi hoạt động của mình ra các địa bàn lân cận cũng như thị
trường quốc tế. Nó giỳp cho ngân hàng không những tiếp tục mở rộng cho vay và đầu tư
mà còn gia tăng lượng tiền huy động được. Do đó, ngân hàng có vốn lớn lại càng có khả
năng cạnh tranh cao hơn hẳn so với ngân hàng nhỏ. Một điểm bất lợi nữa của ngân hàng
nhỏ là phản ứng chậm hơn trước những tình huống bất ngờ. Khi lãi suất biến động, để gia
tăng cạnh tranh với ngân hàng khác nhằm huy động được nhiều hơn, ngân hàng lớn sẽ
tăng lãi suất. Nhưng đối với ngân hàng nhỏ, họ phải tính toán kỹ càng vì nếu chạy đua lãi
suất với ngân hàng lớn thì nguy cơ thu lỗ là rất lớn. Vì vậy ngân hàng nhỏ thường bị ảnh
hưởng mạnh hơn khi có biến động bất thường.
• Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín ngân hàng
Vì nguồn vốn của ngân hàng bao gồm chủ yếu là nguồn tiền gửi. Mà đặc điểm của
nguồn tiền này là phải hoàn trả khi được yêu cầu. Nếu ngân hàng không thực hiện ngay
sẽ làm mất lòng tin của khách hàng, nếu nghiêm trọng sẽ dẫn đến ngân hàng mất khả
năng thanh khoản, có thể có phản ứng dây chuyền đến các ngân hàng khác trong hệ
thống, gây ra phá sản thậm chí là khủng hoảng tài chính. Do đó năng lực thanh toán là
một năm, kỳ phiếu ngân hàng… Lãi suất trả cho nguồn tiền này thường thấp hơn so với
nguồn trung và dài hạn nhưng nó có tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng như dự trữ thanh toán cao
nên lãi suất hiệu quả thường lớn.
• Nguồn trung và dài hạn
Đây là khoản tiền có kỳ hạn từ 1 năm đến 5 năm – nguồn trung hạn, từ 5 năm trở
lên – nguồn dài hạn. Đây là nguồn tiền mà ngân hàng phải trả lãi suất cao nhưng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc lại thấp hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn tiền này được ngân hàng sử dụng cho
vay, đầu tư vào những dự án lớn, có tính sinh lợi cao.
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
13
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
1.2.3.2. Theo đối tượng huy động
Phân chia theo đối tượng thì nguồn vốn được chia thành: vốn từ dân cư, từ các tổ
chức kinh tế, tổ chức tín dụng, từ ngân hàng nhà nước.
• Huy động vốn từ dân cư
Những khoản thu nhập tạm thời nhàn rỗi của dân cư có thể được sử dụng để đầu
tư vào chứng khoán, bất động sản, vàng hay ngoại tệ. Các loại hình đầu tư này mặc dù có
thể đem lại lợi nhuận cao nhưng đồng thời tiềm ẩn rủi ro lớn. Cho nên để đảm bảo tính an
toàn và sinh lợi, người dân thường gửi tiền vào ngân hàng bằng các hình thức như tài
khoản tiết kiệm, tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, hay mua
kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng… Các hình thức này vừa đảm bảo tính an toàn mà còn
đem lại một phần thu nhập cho người dân. Các tầng lớp dân cư lựa chọn các hình thức
gửi tiền khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng của mình. Để phục vụ cho mục đích
giao dịch, thanh toán của chủ tài khoản, ngân hàng đưa ra các sản phẩm tiền gửi thanh
toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Các tài khoản tiền gửi này gần với tiền mặt nhất
trong các loại tiền của NHTM. Đó là do khả năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là
nhanh nhất, bất cứ lúc nào. Chủ tài khoản thường không quan tâm lắm đến tiền lãi mà chỉ
chú trọng đến khả năng chuyển nhượng, chuyển thành tiền mặt khi cần. Ngược lại, khi
người dân gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn thì họ quan tâm hơn
đến lãi suất. Người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kự hạn gửi tiền nhất định. Hiện
1.2.3.3. Theo phương thức huy động
• Vốn tiền gửi
- Tiền gửi không kỳ hạn
Đây là nguồn tiền có thời gian không xác định, nghĩa là khách hàng có thể rút tiền
vào bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng ngay. Đây là khoản tiền mà khách hàng
không có mục đích tiết kiệm mà chỉ chú trọng đến khả năng tiện lợi trong thanh toán.
Đặc điểm chung khác của loại tiền gửi này là lãi suất thường không đáng kể, thậm chí
không được trả lãi. Ở Việt Nam, tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:
Thứ nhất tiền gửi thanh toán, đây là khoản tiền gửi của các cá nhân, tổ chức kinh
tế xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục định thanh toán như tiền nguyên vật liệu, tiền
lương, tiền dịch vụ… Khách hàng gửi tiền dưới hình thức tài khoản thanh toán không
nhằm mục đích sinh lời mà đơn thuần là để chi trả, chuyển nhượng khi cần. Đối với ngân
hàng, tiền gửi thanh toán là khoản tiền mà phải thanh toán ngay khi có yêu cầu, nếu đáp
ứng chậm hoặc không có khả năng đáp ứng gây mất lòng tin với khách hàng, rất có thể
gây ra phản ứng dây chuyền gây nên mất khả năng thanh khoản… Tuy nhiên, ngân hàng
có thể sử dụng loại tiền này để cho vay trong giới hạn cho phép.
Tiền gửi thanh toán tồn tại dưới dạng tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản
vãng lai. Với tài khoản tiền gửi thanh toán, khách hàng chỉ có sử dụng trong phạm vi số
dư của mình. Tài khoản tiền gửi thanh toán còn được gọi là tài khoản giao dịch hay tài
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
15
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
khoản tiền gửi có thể phỏt séc. Cũn với tài khoản vãng lai, khách hàng có thể được dùng
khoản tiền do ngân hàng cho vay theo thỏa thuận cho trước.
Thứ hai là tiền gửi không kỳ hạn thuần túy, là khoản tiền mà khách hàng gửi vào
ngân hàng không phải để nhờ thanh toán hộ mà nhằm mục đích an toàn, khi cần khách
hàng đến ngân hàng rút tiền để sử dụng.
Nhìn chung tiền gửi không kỳ hạn có chí phí thấp nhất lại mang lại thu nhập dịch
vụ thanh toán cho ngân hàng. Nhưng hiện nay, các ngân hàng đều phải gia tăng chi phí
duy trì nguồn tiền này do có sự cạnh tranh gay gắt của ngân hàng khác.
1.2.3.4. Theo loại tiền huy động
• Huy động bằng nội tệ
Ngân hàng huy động vốn bằng nội tệ bằng rất nhiều hình thức khác nhau đáp ứng
nhu cầu sử dụng vốn khác nhau của ngân hàng. Thông thường, nguồn vốn huy động bằng
nội tệ thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vốn huy động được.
• Huy động bằng ngoại tệ
Ngoài huy động vốn bằng nội tệ, ngân hàng còn huy động vốn bằng ngoại tệ.
Ngân hàng huy động vốn bằng ngoại tể để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong xuất nhập
khẩu, nhu cầu đầu tư và tiết kiệm quy đổi ngoại tệ của khách hàng. Lãi suất huy động vốn
ngoại tệ thường thấp hơn so với huy động vốn nội tệ do sự biến động về tỷ giá.
1.3. Hoạt động sử dụng vốn và cung cấp dịch vụ
Ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn mà mình huy động được để cho vay, đầu
tư nhằm sinh lãi, một phần trả lãi cho các khoản đã vay, bù đắp chi phí hoạt động, còn
lại là lợi nhuận của ngân hàng. Cỏc cỏch đầu tư, cho vay hình thành nên tài sản có của
NHTM. Tài sản có của NHTM bao gồm:
1.3.1. Hoạt động sử dụng vốn
• Ngân quỹ
Đây là nghiệp vụ nhằm đáp ứng khả năng thanh toán của ngân hàng, nó bao gồm
các khoản tiền của dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán. Ngân hàng luụn phải dự trữ một
lượng tiền nhất định để có thể hoàn trả cho khách hàng đến rút tiền, phục vụ nhu cầu
thanh toán của họ. Ngân quỹ là khoản tiền không sinh lãi hoặc sinh lời rất thấp nhưng
NHTM vẫn phải dự trữ do quy định của NHNN và để đảm bảo an toàn cho chính mình.
Do đó mỗi ngân hàng cần đưa ra phương án quản lý ngân quỹ cho từng thời điểm vừa để
đảm bảo tính an toàn và sinh lợi cho ngân hàng. Các NHTM thường phân loại ngân quỹ
thành:
- Tiền mặt trong két
Các NHTM thường dự trữ một lượng tiền mặt nhất định tại két của mình hàng
ngày để chi trả cho các khoản tiền rút bất ngờ của khách hàng. Các khoản tiền dự trữ này
bao gồm nội tệ, ngoại tệ thậm chí kim loại quý. Tiền mặt tại két không mang lại thu nhập
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
được tình hình hoạt động và thực hiện các nghiệp vụ tín dụng một cách an toàn.
• Tín dụng
Đây được coi là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho NHTM, phản
ánh hoạt động đặc thù của ngân hàng. Kinh tế tài chính ngày càng phát triển khiến quy
mô và các hình thức tín dụng trở nên đa dạng, phong phú. Tín dụng được hiểu là hành vi
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
18
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
của một người trao vốn cho người khác với cam kết sẽ hoàn lại số tiền cho vay và lãi
trong một thời gian nhất định. Có thể có nhiều cách định nghĩa về tín dụng khác nhau
nữa, như theo Luật tổ chức tổ tín dụng Việt Nam định nghĩa: “Hoạt động tín dụng bao
gồm cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, bảo lãnh và một số hoạt động khác do Ngân
hàng Nhà nước quy định”. Từ đó hình thành nên khái niệm quan hệ tín dụng, đó là quan
hệ hình thành trên cơ sở giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn được xây dựng trên ba nguyên
tắc: có thời hạn, có hoàn trả và có đền bù. Hoạt động tín dụng chiếm một tỷ trọng lớn
trong tài sản của ngân hàng, trong đó tín dụng ngắn hạn có tỷ lệ cao hơn cả.
Có nhiều cách phân loại tín dụng. Nếu phân loại theo thời hạn thì tín dụng chia
làm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn. Các khoản tín dụng ngắn hạn có thời
hạn cho vay dưới 12 thỏng, nó thường tài trợ cho tài sản lưu động. Các khoản tín dụng
trung hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm, tín dụng dài hạn có thời hạn trên 5 năm, chúng
thường tài trợ cho tài sản cố định. Tín dụng còn được phân loại theo hình thức tài trợ bao
gồm: cho vay, chiết khấu, cho thuê, bảo lónh… Trong đó, cho vay là ngân hàng đưa tiền
cho khách hàng với cam kết được hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Chiết khấu thương phiếu là việc
khách hàng mang thương phiếu chưa đáo hạn đến ngân hàng xin ứng trước tiền. Ngân
hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê được gọi là nghiệp vụ cho thuê
(leasing). Còn bảo lãnh là khi ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chớnh hộ khách
hàng của mình. Ngoài ra, người ta có thể phân loại tín dụng theo hình thức đảm bảo. Khi
đó, tín dụng được chia thành tín dụng có tài sản đảm bảo và tín dụng không có tài sản
đảm bảo. Tín dụng có đảm bảo là những khoản tín dụng được đảm bảo bằng uy tín của
khách hàng, của người thứ ba hoặc cầm cố, thế chấp của người xin vay. Tín dụng không
Hoạt động đầu tư của các nước đang phát triển cũng như đã phát triển vẫn luôn
tình trạng “khỏt vốn”. Các nhà đầu tư ở nước phát triển tìm vốn để đầu tư ở thị trường
mới, cũn cỏc nước đang phát triển thực sự thiếu vốn đầu tư cho “những miền đất hứa”.
Một trong những kênh dẫn vốn của họ là đi vay các NHTM. Khi tìm đến ngân hàng, họ
luôn mong muốn được đáp ứng kịp thời, đầy đủ với chi phí hấp dẫn. Tuy nhiên trong môi
trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các ngân hàng thường xuyên phải
đối mặt với nguồn tiền ngày càng khan hiếm. Vì vậy mà các NHTM luôn phải tìm kiếm
các nguồn tiền mới để bổ sung vào nguồn vốn của mình. Điều này có nghĩa là một mặt
các ngân hàng phải duy trì và phát triển các sản phẩm truyền thống, mặt khác NHTM
phải tìm tới thị trường tiền tệ và thị trường vốn để tăng cường khả năng huy động vốn.
Ngược lại, khi khách hàng tìm đến ngân hàng gửi tiền, họ trông đợi ở ngân hàng là sản
phẩm đa dạng, lãi suất tốt nhất, uy tín và chất lượng phục vụ cao… Có thể nói ngân hàng
hiện nay luôn phải đưa ra các kế hoạch để huy động được vốn nhanh nhất, tốt nhất đáp
ứng cho các khoản cho vay, đầu tư hiệu quả. Tất cả đều để đạt mục đích tạo lợi nhuận
cao nhất cho ngân hàng, nâng cao giá trị ngân hàng. Một ngân hàng năng động, phát triển
vững mạnh là ngân hàng làm tốt những hoạt động trờn, nó thể hiện rõ nét nhất qua hiệu
quả huy động vốn.
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
20
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
“Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử
dụng vốn của ngân hàng, đú chớnh là đáp ứng một cách đầy đù, kịp thời và chính xác nhu
cầu sử dụng vốn với một chi phí hợp lý”.
Bao giờ cũng vậy, khi nhắc đến hiệu quả, chúng ta luôn phải so sánh giữa kết quả
đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so sánh kết quả và chi phí, ta thường so sánh dưới dạng
thương số, chi phớ/kết quả hoặc kết quả/chi phí. Ta không thể đánh giá chỉ tiêu hiệu quả
qua hiệu số của kết quả và chi phí. Bởi chênh lệch giữa thu nhập và chi phí chỉ cho ta biết
lợi nhuận gộp của ngân hàng, từ lợi nhuận gộp có thể xác định được lợi nhuận ròng của
ngân hàng. Đây là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng trong một thời kỳ.
1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng vốn còn được tính cho quy mô của từng loại vốn. Quy mô vốn
có tốc độ tăng trưởng ổn định giúp ngân hàng có thể dự báo tương đối chính xác lượng
vốn có thể huy động được để có kế hoạch đầu tư, cho vay cho kỳ tiếp theo. Đồng thời,
tốc độ gia tăng của từng loại vốn ở mỗi thời điểm sẽ cho ngân hàng dự đoán sự thay đổi
về quy mô và kết cấu của nguồn vốn, từ đó đưa ra phương thức huy động vốn hiệu quả
trong giai đoạn tới.
Trong từng hoàn cảnh cụ thể, quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động cũng
như từng loại vốn của mỗi một ngân hàng khác nhau. Các ngân hàng lớn thường có quy
mô nguồn vốn lớn nhưng tốc đọ tăng trưởng thường không cao như các ngân hàng nhỏ.
1.4.2.2. Cơ cấu vốn
Cơ cấu của nguồn vốn huy động ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản và quyết định chi
phí của ngân hàng. Cơ cấu của nguồn vốn được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau
phụ thuộc vào từng mục đích của ngân hàng. Cơ cấu của nguồn vốn có thể được phân
loại theo đối tượng huy động, theo kỳ hạn, theo đồng tiền huy động… Cơ cấu của nguồn
vốn được phản ánh thông qua tỉ trọng từng loại vốn trong tổng nguồn vốn huy động của
ngân hàng.
Tỷ trọng của loại vốn i =
Quy mô loại vốn i
Tổng vốn huy động được
Kết hợp giữa tỷ trọng của từng loại vốn với quy mô tăng trưởng của chúng cho ta
cái nhìn tổng quát hơn về cơ cấu vốn huy động của ngân hàng. Cơ cấu vốn huy động của
ngân hàng cho ta biết ưu thế của ngân hàng đối với từng loại vốn. Các ngân hàng nhỏ
thường có tỷ trọng tiền gửi lớn hơn tỷ trọng tiền vay trong tổng nguồn vốn huy động. Tuy
cả ngân hàng nhỏ và ngân hàng lớn thường có tỷ trọng nguồn trung và dài hạn thấp hơn
nguồn ngắn hạn trong tổng số nguồn vốn huy động nhưng tỷ trọng nguồn ngắn hạn trong
tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng nhỏ lại lớn hơn so với ngân hàng có quy mô
lớn. Đi vào cơ cấu từng loại nguồn vốn, ngân hàng rất quan tâm đến kỳ hạn của nguồn
vốn. Cấu thành tổng nguồn vốn huy động bao gồm nhiều loại kỳ hạn khác nhau từ nhiều
đối tượng trong nền kinh tế chứng tỏ tính đa dạng trong huy động vốn của ngân hàng.
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
huy động
=
Tỷ lệ lạm phát
bình quân
+
Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng
của người gửi tiền
Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của người gửi tiền phụ thuộc vào độ rủi ro của mỗi ngân
hàng, tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khác, và những tiện ích mà người gửi tiền hy
vọng nhân được từ ngân hàng. Những loại tiền gửi mà tiện ích thu được từ ngân hàng
càng cao thỡ lói suất mà ngân hàng phải trả cho nguồn tiền đó càng thấp.
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
23
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
Nguồn tiền gửi là rất quan trọng đối với ngân hàng, nhưng đôi khi ngân hàng vẫn
phải vay thêm để bổ sung nguồn vốn, phục vụ các khoản cho vay, đầu tư có khả năng
sinh lời cao. Với các khoản tiền gửi, khi huy động ngân hàng không thể quyết định được
quy mô cũng như kỳ hạn. Trong khi đó, ngân hàng lại có thể chủ động số vốn cần thiết
khi đi vay là bao nhiêu và trong khoảng thời gian bao lâu. Vì vậy việc đi vay từ Ngân
hàng trung ương và tổ chức tín dụng khác có ý nghĩa với ngân hàng giúp ngân hàng
thường xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất gốc.
Lãi suất
huy động
=
Lãi suất gốc (lãi suất tái chiết khấu,
lãi suất liên ngân hàng, lãi suất trái
phiếu ngắn hạn Chính phủ)
+
Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng
của người gửi tiền
Tỷ lệ thuế thu
nhập và thu nhập
ròng tính trên
nguồn (nhóm
nguồn)
Hoàng Anh Quyên Lớp: TCDN 48C
24
Chuyên đề thực tập GVHD:TS. Phan Hữu Nghị
Từ đó, ngân hàng có thể xác định lãi suất ngắn hạn khác nhau như lãi suất tiết
kiệm 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 thỏng… Cùng với việc điều chỉnh lãi suất
bình quân phù hợp với kỳ hạn, ngân hàng còn phải điều chỉnh sao cho hợp lý với môi
trường cạnh tranh và chiến lược huy động vốn, và trong mối tương quan với lãi suất khác
trong ngân hàng.
Bên cạnh đó, một số ngân hàng nhỏ thường đặt giá dựa trên cơ sở lãi suất của
ngân hàng lớn. Do yếu thế hơn các ngân hàng lớn về uy tín, quy mô, ngân hàng này dựa
vào lãi suất huy động của ngân hàng lớn và cộng thêm phần bù rủi ro của mình.
Việc xác định lãi suất là công việc phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý ngân hàng phải
nhạy bén. Ngân hàng phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng để xác định lãi suất sao cho
vừa có thể huy động nguồn vốn với chi phí và khối lượng hợp lý vừa đảm bảo thu nhập
cho ngân hàng.
Bộ phận thứ hai cấu thành chi phí huy động là chi phí ngoài lãi. Khoản mục chi
phí ngoài lãi quan trọng nhất đối với hầu hết ngân hàng là tiền lương và các chi phí nhân
sự khác, chi phí khấu hao nhà cửa và thiết bị ngân hàng…Chi phí ngoài lãi thường khó
xác định, thường khó phân chia rõ ràng vỡ nó không chỉ phục vụ cho huy động vốn mà
cũn cỏc hoạt động khác của ngân hàng.
1.4.2.4. Tính ổn định
Có thể núi, tớnh ổn định được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất khi đánh giá hiệu quả
huy động vốn. Ví như quy mô vốn có tăng trưởng nhưng với tốc độ luôn thay đổi, biến
động khó dự báo thì ngân hàng cũng rất khó lên kế hoạch sử dụng nguồn an toàn, hiệu
quả. Do vậy tính ổn định của nguồn vốn không chỉ biểu hiệu ở mặt số lượng mà cũn cú