Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Giảng dạy lấy người học làm trung tâm”
Ý KIẾN NHỎ VỀ VẤN ĐỀ
“LẤY NGƯỜI HỌC LÀM TRUNG TÂM”
TRONG DẠY- HỌC LỊCH SỬ
Ths. Lê Thị Minh Thu
Trường Đại Học Cần Thơ
TÓM TẮT
“Giảng dạy lấy người học là trung tâm” có nghĩa là trong quá trình đào tạo, người
học giữ vị trí then chốt, quyết định chất lượng đào tạo. Ngành sư phạm lịch sử đào tạo
những thầy cô giáo lịch sử ở bậc phổ thông trong tương lai, ngoài việc cung cấp nội
dung kiến thức, còn trang bị cho sinh viên lý luận phương pháp dạy học và chú trọng việc
rèn luyện kỹ
năng sư phạm cho sinh viên.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử là một khoa học. Ngay từ thuở xa xưa, các nhà triết học cổ đại La Mã đã
khẳng định: Lịch sử là “thầy giáo của cuộc sống”[4:25], là “bó đuốc soi đường đến
tương lai” [5:21]. Rõ ràng lịch sử là cả một kho tàng kinh nghiệm phong phú và vô cùng
quý giá cho cuộc sống loài người. Hơn nữa, Lịch sử còn góp phần quan trọng vào việc
bồi dưỡ
ng tình cảm, giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc… cho
người học.
Thế nhưng, trong tình hình thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, có vẻ như lịch sử
chưa được trân trọng đúng như giá trị của nó. Nhiều người học vẫn cho rằng lịch sử là
một môn học khô khan, toàn những năm tháng, sự kiện, vì thế họ cho rằng: học lịch sử
không cầ
n tư duy, sáng tạo, chỉ cần ghi nhớ được những sự kiện, năm tháng là đạt yêu
cầu… Chính nhận thức sai lầm về môn học và kiểu “học vẹt” đã khiến người học quên
bẵng những gì đã học ngay sau kỳ thi.
nắm vững kiến thức cơ bản (dù đây là điều kiện tiên quyết), mà còn phải giỏi về kỹ năng
sư phạm (hay thao tác sư phạ
m). Kỹ năng sư phạm đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
việc dạy học lịch sử của giáo viên trong nhà trường nhưng nhìn lại chương trình đào tạo
ngành sư phạm lịch sử, việc phân bổ các đơn vị học trình cho thấy kỹ năng sư phạm lại
chưa được chú trọng đúng mức.
Dạy học là “hành trình của sự sáng tạo”, dạy học là “một loại hình nghệ
thuật”…
Nhưng trước tiên, dạy học là một nghề nên cần chú trọng cả “lý thuyết nghề” và “kỹ năng
thao tác nghề”. Vì vậy, để đào tạo sinh viên trở thành những giáo viên lịch sử “chất
lượng” trong tương lai thì ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản từ
những môn chuyên ngành, những môn chung… theo ý kiến của chúng tôi, ở những môn
sư phạm cốt lõi cần chú trọng tính thực hành, ít nhất, phả
i ngang bằng với tính lý thuyết
của các môn học.
Tôi nhất trí với ý kiến của nhà giáo Kiều Thế Hưng (Trường ĐạI Học Sư Phạm Hà
Nội) rằng:
- Một người giáo viên nếu chỉ nắm vững kiến thức lịch sử mà không giỏi về thao tác
nghề - thao tác sư phạm, thì nhiều lắm chỉ có thể trở thành một nhà nghiên cứu lịch sử
tài ba, chứ không thể là một giáo viên day gi
ỏi môn lịch sử được.
- Một người giáo viên nếu chỉ giỏi về lý thuyết phương pháp mà không giỏi về thao
tác nghề - thao tác sư phạm thì nhiều lắm cũng chỉ có thể trở thành nhà nghiên cứu
phương pháp xuất sắc chứ không thể trở thành giáo viên dạy giỏi được. [6:11]
Thực tế của quá trình đào tạo cho thấy rằng có những sinh viên của chúng ta đã nắm
vững kiến thức c
ơ bản, có điểm số rất cao ở hầu hết các môn học (trong đó có môn lý
thuyết về phương pháp dạy – học lịch sử), nhưng lại đạt kết quả không mấy khả quan
trong thực tập sư phạm ở trường phổ thông. Vì tuy vững “lý thuyết nghề” nhưng lại “thao
tác nghề” không đạt.
ại không thể đứng
lớp vì lý do sức khoẻ (ví dụ như: bệnh bẩm sinh về tim, mạch…), hoặc giọng nói quá yếu
ớt, dù rất cố gắng cũng không thể diễn thuyết trước đám đông… nên gặp rất nhiều khó
khăn trong thao tác nghề. Vậy nên chăng, cùng với cuộc thi tuyển sinh đại học sư phạm,
cần có cuộc kiểm tra sơ bộ về tình trạng sức khoẻ, v
ề tác phong, giọng nói… của thí sinh,
để tránh những tình trạng đáng tiếc về sau.
- “Sản phẩm đào tạo” của ngành chúng ta là những giáo viên lịch sử. Thay vì theo
cách thông thường chúng ta đã và đang làm là đánh giá chất lượng sinh viên ra trường
bằng một luận văn tốt nghiệp hoặc một cuộc thi tốt nghiệp nặng tính lý thuyết, nên chăng,
hạn chế việc thi lý thuyết về phương pháp mà thay vào đó là việc kiểm tra kiế
n thức
phương pháp và vận dụng kiến thức ấy vào “thao tác sư phạm” cụ thể bằng một tiết thực
dạy của sinh viên theo chương trình lịch sử phổ thông trung học.
- Trong kết cấu chương trình đào tạo cần giành thời gian hợp lý cho việc thực hành kỹ
năng sư phạm của sinh viên. Những môn sư phạm cốt lõi đã có những cải tiến nhất định,
nhưng nên chăng, cần giảm nhẹ tính chất lý thuyết, tăng tính thực hành hơn nữa .
- Việc trang bị kỹ năng sư phạm cho sinh viên không chỉ thuộc trách nhiệm của giáo
viên chuyên ngành phương pháp mà là trách nhiệm của cả tập thể giáo viên.Việc rèn
luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên là một công việc tỉ mỉ, mất thời gian, tốn nhiều
công sức… Tuy sinh viên đã nắm chắc “lý thuyết nghề” nh
ưng để chuyển những hiểu
biết ấy sang “thao tác nghề” như thế nào thì thật không đơn giản. Vì vậy, rất cần giáo
viên làm động tác “thị phạm” ban đầu hoặc trong những ví dụ khó để sinh viên cùng trao
đổi và rút kinh nghiệm. Thông thường, tổ phương pháp ít người mà phải đảm trách khối
lượng công việc quá lớn nên rất cần sự hỗ trợ của giáo viên các chuyên ngành khác trong
việc rèn luyện kỹ năng cho sinh viên.
- Trong thờ
i gian qua, chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp
dạy - học theo chiều hướng phát huy tính tích cực của người học và việc dạy học các
nhằm tạo ra những sản phẩm đào tạo - nhữ
ng giáo viên lịch sử tương lai - vững vàng cả
“lý thuyết nghề” lẫn “thao tác nghề”, thực sự là một trong những đảm bảo vàng cho chất
lượng dạy - học lịch sử trong nhà trường hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Bá Hoành (chủ biên), Các phương pháp sư phạm, Song Kha dịch, NXB
Thế giới, HN, 2002.
2. Luật giáo dục, NXB CTQG, 2005.
3. Phan Ngọc Liên, Phương pháp dạy học lịch sử, NXB GD, 1999.
4.
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung
tâm, NXB GD, 1995.
5. Lê Văn Sáu (chủ biên), Nhập môn sử học, NXB GD, 1987.
6. Viện nghiên cứu giáo dục - Khoa Lịch Sử trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM, Kỷ
yếu hội thảo: Thực trạng - giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử
trong trường phổ thông theo hướng đổi mới phương pháp dạ
y - học, TP.HCM
11.2005.
.
Trường Đại học An Giang, 06/2007
44