Download Đề tài Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý miễn phí
Đánh giá những mặt đạt được.
- Vốn đầu tư đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cho những vùng,lĩnh vực trọng điểm, những vùng khó khăn, như: Tiếp tục tập trung đầu tư những tuyến đường giao thông huyết mạch, các công trình thủy lợi, các hồ chứa nước tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường đầu tư cho hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề; các công trình thuộc ngành khoa học công nghệ, văn hóa thông tin, y tế xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia và xóa đói giảm nghèo.
- Trong công tác xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư không ngừng tăng thể hiện sự chú trọng đầu tư của nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho nền kinh tế ,đồng thời tăng tính hấp dẫn đầu tư nước ngoài.
- Từng bước xoá bỏ bao cấp trong đầu tư, chuyển từ hình thức cấp phát vốn sang cho vay tín dụng đầu tư đối với các dự án có khả năng thu hối vốn; Nhà nước hỗ trợ về lãi suất cho các dự án và các doanh nghiệp tự vay tự trả, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng vốn đầu tư.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-16854/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!Tóm tắt nội dung:
2001 xuống 52% năm 2005. Đây là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế thị trường đang hình thành, phần nào phản ánh môi trường đầu tư đã và đang được cải thiện. Trong khi đó vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước có mức tăng cao hơn cả mức tăng trưởng vốn cuả khu vực ngoài quốc doanh chiếm vị trí thứ hai trong các nguồn vốn nhà nước.
Tốc độ tăng bình quân năm (%) qua các giai đoạn.
Giai đoạn
Nhà nước
Ngoài quốc doanh
Đầu tư nước ngoài
1991-1995
21,1
11,5
46,7
1996-2000
20,2
8,1
1
2001-2005
10,2
20,9
9,9
Ta có biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng từng nguồn vốn như sau;
Nguồn vốn Nhà nước.
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, ước thực hiện trong 5 năm (1996-2000) trên 100 nghìn tỷ đồng (theo giá 1995), đã tập trung hơn cho lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; trong đó đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp khoảng 23,5%; cho công nghiệp 9,4%; cho giao thông vận tải và bưu chính viễn thông 30,7%; cho khoa học và công nghệ 1,8%, giáo dục và đào tạo 7,1%; y tế, xã hội 6,4%; văn hoá, thể dục thể thao 3,6%; cho các ngành khác 17,5%.
Tính chung cho giai đoạn 2001-2005 tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 22,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Trong đó nguồn vốn ngân sách Nhà nước chi cho đầu tư phát triển năm 2005 là gần 79,199 nghìn tỷ đồng chiếm khoảng 22% tổng nguồn đầu tư xã hội. Nếu tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ và công trái giáo dục khoảng từ 8-10 nghìn tỷ đồng thì tổng đầu tư chiếm 32% so với tổng chi ngân sách nhà nước. Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xu hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỉ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước: Nếu như trước 1990, nguồn vốn này được xem là công cụ quản lí và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước.Giai đoạn 1991-1995 nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước chiếm 5,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đoạn 2001-2005 đã chiếm 14% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Trong những năm tới ,xu hướng của nguồn vốn này là cải thiện về mặt chất lượng và cách tài trợ nhưng tỉ trọng không có sự gia tăng đáng kể.
Nguồn vốn tín dụng nhà nước, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư thông qua việc huy động khấu hao tài sản cố định, đất đai, nhà xưởng chưa sử dụng, thì Nhà nước điều hành có mức độ; hai nguồn vốn này chiếm khoảng 17% thời kỳ 1991-1995 và 31,72% thời kỳ 1996-2000. Như vậy chung cho cả 3 nguồn vốn mà Nhà nước có thể điều hành với những mức độ khác nhau chiếm khoảng 49% so với tổng nguồn, còn tất cả các nguồn vốn khác điều hành gián tiếp thông qua cơ chế, chính sách.
Nguồn vốn đầu tư huy động để đưa vào cho vay các chương trình, dự án đầu tư trong năm 2005 là 30.000 tỷ đồng chiếm 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 25.000 tỷ đồng (bao gồm 18.000 tỷ đồng nguồn vốn trong nước; 7.000 tỷ đồng vốn ODA cho vay lại) và Ngân hàng chính sách xã hội cho vay 5.000 tỷ đồng.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: năm 2005 khoảng 59.000 tỷ đồng (chưa kể nguồn vốn vốn tín dụng nhà nước mà các DNNN vay từ Quỹ hỗ trợ phát triển), trong đó vốn của một số Tổng công ty lớn như sau: Tổng công ty Điện lực Việt Nam đạt 17.000 tỷ đồng, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đạt 25.000 tỷ đồng, Tổng công Thép Việt Nam là 2.200 tỷ đồng, Tổng công ty Than Việt Nam là 600 tỷ đồng, …
Nguồn vốn đầu tư tư nhân và dân cư:
Theo ước tính của Bộ kế hoạch và đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh chiếm bình quân khỏng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp và khoảng 3,7%GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư, phần tiết kiệm của dân cư tham gia trực tiếp đầu tư khoảng 5% GDP và bằng 33% tổng tiết kiệm. Trong giai đoạn 2001-2005 nguồn vốn này chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2005 đầu tư ngoài quốc doanh là khoảng 105 nghìn tỷ đồng, gần gấp đôi vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Có được thành tựu trên là nhờ 38 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký là 103,5 nghìn tỷ đồng cùng với sự ra đời của Luật doanh nghiệp và luật đầu tư khuyến khích đầu tư phát triển của Nhà nước.
Nguồn vốn từ nước ngoài.
Tính đến năm 207, cả nước có hơn 9500 dự án dầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng kí khoảng 98 tỉ USD (kể cả vốn tăng thêm).Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí 83,1,tỉ USD.Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới,nhiều dự án sau khi hoạt động đã mở rộng qui mô sản xuất tăng vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 đến nay.Tính đến hết 2007 có trên 4000 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỉ USD,bằng 19,2% tổng vốn đăng kí cấp mới.
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỉ trọng lớn nhất,chiếm 66,8% về số dự án, 60,2% tổng vốn đăng kí và 68,5% vốn thực hiện.Lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,2% về số dự án 34,4% vốn đăng kí và 24,5% vốn thực hiện.Nông lâm ngư nghiệp chiếm 10,8% số dự án,5,37% vốn đầu tư và 6,7% vốn thực hiện.
Từ 1988 đến hết năm 2007 các tỉnh phía bắc thu hút 2220 dự án với tổng vón đầu tư 24 tỉ USD chiếm 26% số dự án,29% tổng vốn đăng kí,24% vốn thực hiện.Các tỉnh phía Nam thu hút được 5452 dự án tổng vốn 46,8 tỉ USD chiếm 63%dự án, 56% vốn dăng kí và 51% vốn thực hiện.Trong đó nổi lên một số địa phương thu hút và sử dụng vốn tốt như Bình dương, Đồng nai, tp Hồ chí Minh..Tuy vậy tại các vùng miền núi phía Bắc và tây nguyên việc thu hút FDI vẫn còn quá ít.
Trong thời gian qua đã có 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt nam trong tổng vốn đang kí trên 80 tỉ USD các nước Châu Á chiếm 69,1% mà đứng đầu là Đài loan, Singapore,Nhật bản,Châu Mĩ chiếm chiếm11,8%,riêng Mĩ chiếm 4%.Số vốn còn lại thuộc các nước khu vực khác
Đánh giá những mặt đạt được:
- Quy mô vốn đầu tư huy động từ các nguồn luôn tăng liên tục qua các năm.
Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước chỉ tính riêng 3 năm 2001-2003 đã đạt được khoảng 2440423,2 tỷ đồng bằng 95,04% 5 năm 1996-2000, nếu tính thực hiện bình quân hàng năm vốn đầu tư phát triển thì khu vực kinh tế nhà nước giai đoạn 1996-2000 thì chỉ 3 năm 2001-2003 bằng 158,4%. Năm 2005 so với 2004 thì : nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tăng 8%, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tăng khoảng 3,5%, nguồn vốn của khu vực doanh ngiệp nhà nước tăng khoảng 25%. Năm 2006 đạt khoảng 185100 tỉ đồng .
Vốn đầu tư từ khu vực dân cư và tư nhân, trong 3 năm 2001-2003 đạt khoảng 107038,3 tỷ đồng bằng 96,68% trong 5 năm 1996-2000. Năm 2005 nguồn vốn này tăng vọt lên tới gần 105 nghìn tỷ đồng.
Vốn đầu tư từ khu vực nước ngoài không ngừng tăng trưởng, tính chung trong giai đoạn 2001-...