Đề án Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - pdf 13

Download Đề án Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay miễn phí



Lời mở đầu
Chương I : Những lý luận cơ sở
1. Doanh nghiệp nhà nước 1
2. Thực trạng về tình hình hoạt động của DNNN ở Việt Nam và sự cần thiết phải tổ chức sắp xếp lại các DNNN 1
3. Khái niệm, quan điểm của Đảng, nhà nước về cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam 3
4. Mục tiêu của cổ phần hoá và quy trình chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần 5
Chương II : Thực trạng và giải pháp hoàn thiện nền tảng pháp lý cho cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam
A. Thực trạng cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam
I. Thực trạng của cổ phần hóa DNNN thời gian 7
II. Những hạn chế của cổ phần hóa DNNN và nguyên nhân 11
B. Những quan điểm cổ phần hóa DNNN trong thời gian tới
1. Phải đảm bảo tính chính xác trong việc xác định giá trị còn lại của các DNNN 14
2. Đảm bảo không làm thất thoát tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh và làm giảm thu nhập của người lao động 15
3. Xác lập cơ chế pháp lý hấp dẫn đối với người lao động 15
4. Đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện cổ phần hóa 15
5. Xác định đối tượng cổ phần hóa và hình thức cổ phần hóa 15
6. Lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp Nhà nước trước khi tiến hành cổ phần hóa 16
Chương III : Các giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN
1. Hoàn thiện bộ máy và tổ chức chỉ đạo 16
2. Áp dụng đồng bộ các giải pháp về tài chính, tín dụng, tích cực giải quyết các khoản nợ của DNNN trước khi thực hiện cổ phần hóa 17
3. Hoàn thiện việc xác định giá trị doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa 18
4. Điều chỉnh các chính sách ưu đãi để khuyến khích DNNN thực hiện cổ phần hóa, tạo sân chơi bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt giữa loại hình DNNN và công ty cổ phần 18
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-34574/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

ông muốn cho DNNN vay nếu DNNN không cải tổ và có phương pháp làm ăn tốt có sức thuyết phục. Còn nước ngoài chỉ có thể làm ăn với DNNN thông qua các hình thức mua, thuê, liên doanh, mua cổ phần … Chính vì vậy muốn có vốn để đầu tư cho phát triển, DNNN chỉ có thể huy động được thông qua hình thức bán cổ phần.
Mục tiêu thứ ba của cổ phần hóa các DNNN là tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp : khi có vốn để mua cổ phiếu, tham gia chọn các thành viên trong hội đồng quản trị thì lúc đó người lao động mới có quyền thực sự. Hơn nữa, với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của công ty sẽ trở thành cổ đông và hưởng lãi trên vốn, thay vì thu nhập thông thường. Điều này làm cho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại của công ty thực sự là thành bại của mình.
4.2. Quy trình chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần
DNNN chuyển đổi thành công ty cổ phần được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1 : Chuẩn bị cổ phần hóa
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ (gọi tắt là các bộ), các ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các tổng công ty 91 lập danh sách DNNN cổ phần hóa từng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ và gửi cho các doanh nghiệp để thực hiện. Các DNNN trong danh sách cổ phần hóa báo cáo dự kiến danh sách các thành viên trong Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp lên bộ, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, Tổng công ty 91 để quyết định. Các bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Tổng công ty 91 quyết định thành lập Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp thuộc quyền quản lý và quyết định từng doanh nghiệp cổ phần hóa trong từng năm. Thành phần Ban quản lý tại doanh nghiệp gồm : Giám đốc (hay Phó Giám đốc) làm trưởng ban, kế toán trưởng là ủy viên thường trực và các thành viên khác. Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp có trách nhiệm tuyên truyền, giải thích cho người lao động trong doanh nghiệp mình những chủ trương chính sách của chính phủ để tổ chức thực hiện.
Bước 2 : Xây dựng phương án cổ phần hóa
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp tổ chức và kiểm kê tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ của doanh nghiệp và dự kiến giá trị thực tế của doanh nghiệp, làm văn bản thỏa thuận với Bộ tài chính. Bộ tài chính quyết định giá trị doanh nghiệp có mức vốn nhà nước ghi trên sổ sách, kế toán đến thời điểm cổ phần hóa trên 10 tỷ đồng, nếu từ 10 tỷ đồng trở xuống thì sẽ do Bộ, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, Tổng Công ty 91 quyết định. Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp lập phương án dự kiến cổ phần hóa doanh nghiệp và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần.
Bước 3 : Phê duyệt và triển khai phương án cổ phần hóa
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án quyết định chuyển DNNN thành Công ty cổ phần đối với DNNN có giá trị thuộc vốn nhà nước do cơ quan có thẩm quyền đã quyết định là trên 10 tỷ đồng. Các Bộ, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển DNNN thành Công ty cổ phần đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước đã được quyết định từ 10 tỷ đồng trở xuống. Tổng Công ty 91 báo cáo Bộ quản lý chuyên ngành kinh tế kỹ thuật phê duyệt phương án cổ phần hóa và quyết định chuyển DNNN thành Công ty cổ phần đối với các doanh nghiệp thành viên của Tổng Công ty 91 có vốn nhà nước đã được quyết định từ 10 tỷ đồng trở xuống.
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp có trách nhiệm bán cổ phần của doanh nghiệp cho các cổ đông, triệu tập đại hội cổ đông để thông qua điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần.
Bước 4 : Ra mắt công ty cổ phần và đăng ký kinh doanh
Giám đốc, Kế toán trưởng DNNN bàn giao cho Hội đồng quản trị công ty cổ phần : lao động, tiền vốn, tài sản, danh sách hồ sơ cổ đông và toàn bộ các hồ sơ tài liệu, sổ sách của doanh nghiệp (trước sự chứng kiến của Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp và thay mặt cơ quan quản lý vốn, tài sản nhà nước). Hội đồng quản trị công ty cổ phần hoàn tất các công việc còn lại, đăng ký kinh doanh theo quy định hiện hành.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NỀN TẢNG PHÁP LÝ CHO CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
A. THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM
I. Thực trạng của cổ phần hóa DNNN thời gian qua
1. Việc thực hiện chủ trương này qua các giai đoạn
Trong thời gian qua, số DNNN được cổ phần hóa qua từng năm có biến động và tăng không nhiều, trung bình đạt khoảng 60% so với kế hoạch đặt ra. Tổng số DNNN đã được cổ phần hóa chiếm gần 5% tổng số DNNN hiện có.
Để phân tích những thành công cũng như hạn chế của quá trình thực hiện cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét việc thực hiện chủ trương này qua các giai đoạn như sau :
v Từ năm 1992 đến 6/1998 (trước khi có nghị định 44/1998/NĐ-CP).
Trong giai đoạn này cả nước đã cổ phần hóa được 30 DNNN, trong đó, 5 doanh nghiệp được cổ phần hóa theo cơ chế, chính sách thí điểm quy định tại quyết định số 202/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, 25 doanh nghiệp được thực hiện theo cơ chế chính sách quy định tại nghị định 28/CP của Chính phủ.
Các DNNN cổ phần hóa trong giai đoạn này nhìn chung đều có những tiến bộ với mức độ khác nhau về năng suất, chất lượng, hiệu quả. Việc thực hiện cổ phần hóa giúp doanh nghiệp thu hút được một nguồn vốn nhất định trong cán bộ công nhân viên tại doanh nghiệp và ngoài xã hội, tạo được động lực trong quản lý và phát huy tốt tính tích cực, sáng tạo của người lao động. Doanh thu, lợi nhuận, các khoản nộp ngân sách, tích lũy vốn của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động đều tăng. Việc làm của người lao động được bảo đảm tốt hơn, đồng thời các biểu hiện tiêu cực trong doanh nghiệp cũng giảm bớt.
Giai đoạn từ khi Chính phủ ban hành nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 2/6/1998 đến ngày 31/12/1999. Trong giai đoạn này đã có thêm 340 DNNN và bộ phận DNNN được chuyển thành công ty cổ phần. Riêng năm 1999 đã có 249 doanh nghiệp, gấp 8 lần so với 7 năm trước cộng lại. Như vậy về mặt số lượng, tốc độ cổ phần hóa sau khi có nghị định số 44/1998/NĐ-CP được đẩy mạnh, nhiều bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước đã tích cực thực hiện và có những kết quả rất đáng khích lệ. Điển hình là tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh: Nam Định, Thanh Hóa, Bình Định, Lâm Đồng, Phú Thọ, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, các Bộ xây dựng, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, các tổng công ty hàng hải …
Một số bộ, địa phương và Tổng công ty 91 đã có những chỉ đạo nhưng kết quả đạt được trong công tác cổ phần hóa còn rất hạn chế. Bộ công nghiệp, Bộ thủy sản, các tỉnh Cần Thơ, Khánh Hòa, Quảng Bình, Vĩnh Phúc, Tổng công ty hóa chất, Tổng công ty thép là những ngành, địa phương có tốc độ cổ phần hóa chậm.
Đến hết năm 1999 vẫn còn 6/13 bộ, 7/17 Tổng công ty 91 và 21/61 tỉnh chưa có DNNN nào được chuyển đổi sang công ty cổ phần. Đó là các bộ : y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ và môi trường, văn hóa - thông tin, n...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status