Download Đề tài Vai trò của lợi nhuận trong nền Kinh tế thị trường ở Việt Nam miễn phí
Lợi nhuận đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế. Nó ảnh hưởng tới cả chính trị xã hội, văn hoá, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội trong mọi nền kinh tế thị trường. Mà ta vẫn biết rằng mọi sự vật hiện tượng đều có tính hai mặt của nó là tích cực và tiêu cực như thế nào đó để phát huy mọi tính ưu việt và vai trò của lợi nhuận.
Với mục đích lợi nhuận các nhà tư bản tìm đủ mọi cách để có được nhiều lợi nhuận. Trước đây họ có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách kéo dài ngày lao động của công nhân nhưng phương pháp đó đã gặp phải sự chống đối mãnh liệt của công nhân chính vì lẽ đó mà họ chuyển sang bóc lột một cách tinh vi hơn. Nhà tư bản áp dụng kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất và bắt buộc người công nhân phải làm việc có năng suất cao hơn. Nhưng chính mục đích áp dụng kỹ thuật mới đã làm cho các nhà tư bản đầu tư ngày càng nhiều vào khoa học kỹ thuật đặc biệt là vấn đề nghiên cứu, cho nên nó đã khuyến khích các tài năng cá nhân phát triển do vậy mà những phát minh lần lượt được ra đời đặc biệt trong thế kỷ XIX đến XX. Nó đã đưa lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng yếu tố này đã giúp cho nhà tư bản không chỉ thu được lợi nhuận đơn thuần mà còn thu được lợi nhuận siêu ngạch. Người công nhân chính là người trực tiếp sử dụng, vận hành công nghệ mới vì vậy để quá trình sử dụng được tiếp diễn với hiệu quả kinh tế cao thì người công nhân bắt buộc phải nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề nếu không họ sẽ bị đào thải bởi quy luật phát triển. Còn về mặt nhà tư bản thì họ cũng hiểu rằng để đạt được hiệu quả cao, tận dụng được hết các chức năng của công nghệ tiên tiến thì họ phải có một đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ kỹ thuật cao. Vì vậy quá trình đầu tư cho chiến lược nâng cao trình độ lao động của nhà tư bản và yêu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độ của mình của người công nhân đã diễn ra
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-34796/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản ở các ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi hơn. ở các ngành khác nhau, sản xuất khác nhau do đó có những điều kiện khác nhau, tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Các nhà sản xuất chọn những điều kiện sản xuất có lợi cho mình nhất để thu được nhiều lợi nhuận, các nhà tư bản thì tìm nơi để đầu tư thu được lợi nhuận cao nhất đối với họ. C.Mác viết: “Do ảnh hưởng của cạnh tranh những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỷ suất lợi nhuận chung, đó là con số bình quân của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận của một tư bản có một lượng nhất định thu được, theo tỷ suất lợi nhuận chung đó, không kể cấu tạo hiện có như thế nào gọi là lợi nhuận bình quân”.
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội tư bản. Sự hoạt động của quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội tư bản biểu hiện bởi sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành P và P’ không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh vẫn tiếp diễn.
Sự chuyển hoá từ giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất là sự che dấu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa của phạm trù sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ phận hàng hoá được bán cao hơn giá trị của chúng, còn bộ phận khác lại bán thấp hơn giá trị của chúng cũng theo một tỷ lệ như thế. Chỉ có bán hàng hoá theo những giá cả đó thì tỷ suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu thành hữu cơ của các nhà tư bản đều khác nhau. “Những giá cả có được bằng cách lấy chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất”.
Vậy: Giá cả sản xuất = k +
Trước đây khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản xuất. Về mặt lượng, giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. Chính trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trường.
Như vậy lợi nhuận được tạo ra từ sản xuất , giờ ta sẽ xét đến các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
II - Các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
Lợi nhuận được chuyển hoá thành: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp,lợi tức và tỷ suất lợi tức, lợi nhuận ngân hàng địa tô, lợi nhuận độc quyền.
1. Lợi nhuận công nghiệp
trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh, họ muốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để khi trừ đi các chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tài sản xuất mở rộng không ngừng tích luỹ phát triển, sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường. Lợi nhuận ở đây chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Cần tối đa hoá lợi nhuận hay cực tiểu hoá chi phí sản xuất là hành vi làm tăng lợi nhuận hay giảm chi phí sản xuất, tức là phải làm gì để đạt được lợi nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh thu của doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp kiềm chế được nhờ bán hàng hoá,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Trong tổng doanh thu đó có một phần lợi nhuận kiếm được. Và quá trình bán này cũng được tư bản công nghiệp chia một phần lợi nhuận đó, một phần này gọi là lợi nhuận thương nghiệp.
2. Lợi nhuận thương nghiệp
Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thương ở đó họ cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá. Họ coi trọng thương nghiệp là sự lừa gạt “không một người nào thu được lợi mà không làm thiệt kẻ khác”. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm và nguyên nhân của sự sai lầm này là do họ tách rời quá trình lưu thông và quá trình sản xuất ra khỏi nhau.
Khác với tư bản thương nghiệp trước, chủ nghĩa tư bản thương nghiệp hiện đại thì tư bản thương nghiệp là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách rời ra phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của tư bản công nghiệp. Tư bản thương nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá thặng dư. Nhìn bề ngoài lợi nhuận thương nghiệp là do mua rẻ, bán đắt do lưu thông tạo ra. Nhưng thực chất “lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp”. Nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp một phần bởi vì tư bản thương nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông đó là một khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất - tức là một khâu trong quá trình chu chuyển của tư bản, không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản xuất không thể tiếp tục được. Và dĩ nhiên nhà tư bản thương nghiệp cũng không phải là hoạt động không công được mà họ cũng đòi hỏi phải có lợi nhuận. Điều này bắt buộc nhà tư bản công nghiệp phải nhường một phần lợi nhuận của mình cho tư bản thương nghiệp. Vậy: “lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá.”
Nhưng điều đó không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cao hơn giá trị của nó, mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Và vì nhà tư bản thương nghiệp tham gia vào việc phân chia giá trị thặng dư (m) cho nên đời sống của xã hội tư bản hai loại giá sản xuất: Giá cả sản xuất công nghiệp và giá cả sản xuất thực tế. Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp đã che dấu thêm một bước quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Do việc phân phối lợi nhuận giữa tư banr công nghiệp và tư bản thương nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thông qua cạnh tranh.
3. Lợi tức và tỉ suất lợi tức
Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp luôn có số tư bản tiền tệ ứng trước tạm thời nhàn rỗi ví dụ như tiền lương quỹ khấu hao của tư bản cố định, tiền dùng để mua nguyên vật liệu nhưng chưa đến kỳ mua và Bộ phận giá trị thặng dư tích lũy (dươí dạng tiền T) để mở rộng sản xuất nhưng chưa sử dụng đến,...
Số tiền nhàn rỗi như thế không đem lại một thu nhập nào cho nhà tư bản. Nhưng đối với nhà tư bản thì tiền phải đẻ ra tiền. Vì vậy nhà tư bản cho người khác vay để lấy lãi. Tổng số giá trị mà anh ta cho người kh