Download Tiểu luận Tình hình phát triển công cụ lao động ở Việt Nam trong thời gian qua miễn phí
Theo kết quả điều tra, giá trị tài sản cố định là máy móc, thiết bị trong tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh vào thời điểm 0 giờ ngày 1.1.1990 trị giá 11914 tỷ đồng theo nguyên giá, 6485 tỷ đồng tính theo giá trị còn lại (dựa trên cơ sở giá 1989). Trong tổng số tài sản cố định trên, 78% đã được đưa vào sử dụng năm 1985 trở về trước. Nếu chỉ đổi mới riêng bộ phận tài sản cố định này, số thiết bị cùng loại đã trị giá tới 9292,9 tỷ đồng ( theo giá 1989). Nguồn vốn này không thể huy động được từ các nguồn trong nước do hiệu quả kinh doanh thấp ( Năm 1989, 1000 đồng tài sản cố định chỉ tạo ra được 1,52 đồng lợi nhuận) và mức khấu hao buộc phải thấp để các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được sản phẩm với giá thị trường chấp nhận được. Điều này làm cho các doanh nghiệp không đủ khả năng đảm bảo vốn để đổi mới công nghệ của mình. Tỷ trọng rất thấp ( 20,7% ) của toàn bộ spó tài sản cố định được tạo rằt vốn tự có của các doanh nghiệp so với nguyên giá của các tài sản cố định đã cho thấy rõ những điều này. Trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã gợi vốn bằng cách liên doanh và dành một phần vốn huy động đó để đổi mới công nghệ. Tuy vậy, lượng vốn này cũng chưa đáng kể lắm so với nhu cầu vốn để đổi mới công nghệ.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-34713/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
Cơ sở lý luận:
Khái niệm:
Quá trình sản xuất và vai trò của sản xuất:
Sản xuất của cải vật chất - cơ sở của đời sống xã hội. Sản xuất xã hội là khái niệm rộng hơn khái niệm sản xuất của cải vật chất. Song, đứưng trên quan điểm duy vật, cái gốc của sản xuất xã hội là sản xuất của cải vật chất.
Sản xuất của cải vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, khai thác hay cải tiến các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản của con người, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Sản xuất của cải vật chất là cơ sở hình thành và phát triển các chế độ nhà nước, các quan điểm phát luật, tôn giáo,… của con người. Nó có vai trò quan trọng trong trong sự phát triển và hoàn thiện bản thân con người, làm cho con người ngày càng phát triển toàn diện hơn về cả thể chất và trí tuệ.
Sản xuất luôn luôn là sự tác động qua lại của ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động:
Sức lao động: Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, là khả năng lao động của con người, là điều kiện cơ bản của sản xuất ở bất cứ xã hội nào.
Đối tượng lao động: là những vật mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của mình. Nó chính là yếu tố vật chất của sản phẩm tương lai.
Người ta phân đối tượng lao động thành hai loại: Loại có sẵn trong tự nhiên và loại đã qua chế biến.
Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại, vai trò của nhiều đối tượng lao động dần dần được thay đổi và nhiều đối tượng lao động mới được tạo ra. Việc nghiên cứu và ứng dụng vật liệu mới là một trong những mũi nhọn của cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Vật liệu mới đã và đang mở ra những khả năng to lớn cho nền sản xuất hiện đại, cho phép tăng nhanh khối lượng sản phẩm
Tư liệu lao động: là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người đến đối tượng lao động. Tư liệu lao động gồm:
+ Công cụ lao động: là bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm.
+ Những đồ dùng để chứa và bảo quản đối tượng lao động và sản phẩm của lao động như: bình, lọ chai…Bộ phận này giữ vai trò hệ thống bình chứa của sản xuất.
+ Hệ thống các yếu tố phục vụ trực tiếp hay gián tiếp quá trình sản xuất mà nếu thiếu chúng sẽ không thực hiện được quá trình sản xuất như: nhà xưởng, kho tàng, các phương tiện vận tải, thông tin liên lạc… Bộ phận này gọi là kết cấu hạ tầng của sản xuất.
Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động, công cụ lao động, công cụ lao động có ý nghĩa quyết đinh nhất.
[ 8 trang 26 - 29 ]
Công cụ lao động:
Là một tổ hợp những vật thể dùng để dẫn truyền, dùng để tác động lực trực tiếp từ con người lên đối tượng lao động trong bất kỳ nền sản xuất nào. Thí dụ: hòn đá, cái gậy là công cụ của người nguyên thuỷ; cái cày, cái cuốc là công cụ lao động của người nông đân trong nền sản xuất nhỏ, lạc hậu; máy móc, cơ khí, máy tự động là công cụ lao động trong nền sản xuất hiện đại.Nó cũng là yếu tố độc nhất, cách mạng nhất, yếu tố luôn thay đổi theo xu hướng tiến bộ cách mạng, yếu tố độc nhất, cách mạng nhất.
Vai trò và ý nghĩa:
Là bộ phận tích cực nhất trong tư liệu lao động.
Công cụ lao động là cái động nhất, cách mạng nhất của tư liệu lao động. Chúng là những vật được con người sử dụng để trực tiếp truyền tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất. Chúng luôn được cải tiến, đổi mới, có ý nghĩa quan trọng quyết định năng suất lao động,là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Vì thế, C.Mác gọi công cụ lao động, nhất là các máy móc cơ khí là “hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản xuất”.
[ 2 trrang 269 ]
Nếu không có công cụ lao động sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất, sản xuất sẽ diễn ra một cách chậm chạp, trì tuệ, hao phí nhiều thời gian và công sức, dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả kém.
Công cụ lao động có hai tác công cụ thể: truyền dẫn lao động, trực tiếp làm tăng khả năng hoạt động của các khí quan của con người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất làm cho con người phát triển về mặt thể chất và trí tuệ, làm cho con người ngày càng phát triển và tiến bộ hơn.
Công cụ lao động biến đổi nhanh chóng và rõ rệt so với hai bộ phận của tư liệu lao động là những đồ dùng để chứa đựng, bảo quản đối tượng lao động, sản phẩm của lao động và hệ thống các yếu tố vật chất phục vụ trực tiếphay gián tiếp quá trình sản xuất.
Công cụ lao động là biểu hiện cụ thể và tập trung nhất của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, những thành tựu của khoa học - kỹ thuật được thể hiện qua công cụ lao động. Cách mạng khoa học kỹ thuật đã cải tiến và thay thế dần các công cụ lao động thô sơ, cũ kỹ, lạc hậu như: trong nông nghiệp, cái cày, cái cuốc, cái liềm đã được thay thế bằng máy cày ruộng, máy cắt lúa,…
Công cụ lao động là một trong những căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các thời đại kinh tế.
Trình độ phát triển của công cụ lao động phản ánh trình độ nền sản xuất xã hội, là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế. Quá trình phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát triển và hoàn thiện tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động. Từ công cụ sơ khai của người nguyên thuỷ đến công cụ sản xuất thủ công trong xã hội nô lệ, phong kiến
lên cơ khí hoá, tự động hoá sản xuất là những nấc thang trên con đường phát triển nền văn minh nhân loại.
[ 8 trang 29 ]
Trình độ phát triển của công cụ lao động là dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản xuất xã hội nhất định, C.Mác đã viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chổ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chổ chúng sản xuất bằng cách nào, với tư liệu lao động nào”
Tình hình phát triển công cụ lao động ở Việt Nam trong thời gian qua.
Từ 1975 đến 1986: thời kỳ bao cấp
Kinh tế phát triển chập chạp, rồi đi vào trì tuệ và khủng hoảng:
Knh tế nổi bật của nước ta “vẫn ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa”
[ 3 trang 47 ]
Trong thời kỳ này, Việt Nam tập trung vào nhiệm vụ khôi phục kinh tế, ổn đinh đời sống nhân dân, đặc biệt là các vùng bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, tiến hành thống nhất đất nước trên mọi lĩnh vực.
Năm 1975, Việt Nam vừa mới thống nhất đất nước và tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế cùng kiệt nàn, lạc hậu, cơ sở hạ tầng kém. Do đó nền kinh tế còn nhiều khó khăn: thiếu vốn, công cụ sản xuất lạc hậu, cùng kiệt đói, năng suất lao động thấp…
- Máy móc thi...