Tiểu luận Nâng cao hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc Hội - pdf 13

Download Tiểu luận Nâng cao hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc Hội miễn phí



MỤC LỤC
A.MỞ BÀI
B.NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1. Khái niệm chất vấn và bản chất quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội
2. Quy trình chất vấn và trả lời chất vấn
3. Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động chất vấn
II. NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ TRONG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1. Những điểm hạn chế trong chất vấn của đại biểu Quốc hội
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội
2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động chất vấn
2.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động chất vấn
2.2.1. Đảm bảo điều kiện về chính trị- pháp lý theo định hướng xây dựng
nhà nứơc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2.2. Đảm bảo điều kiện về bộ máy tham mưu, giúp việc.
2.2.3. Đảm bảo điều kiện về tài chính
2.2.4. Các giải pháp về đại biểu Quốc hội.
C. KẾT BÀI
 
 
 
 
 
 
 
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-37849/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

Nâng cao hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc Hội
8 điểm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trần Hoàng Minh, “ Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội – một số vấn đề cần quan tâm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6/ 2006
Đặng Đình Luyến, “ Một số yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội”, Tạp chí Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3/ 2002
Phạm Minh Phương, “ Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội 2006
Nguyễn Đình Quyền, “ Một số giải pháp hoàn thiện về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp sô 15/2008
Quốc hội nước CHXHCNVN, Hiến pháp 1980, 1992, NXB Chính trị Quốc gia năm 2002
Quốc hội nước CHXHCNVN, Luật tổ chức Quốc hội 2001 ( sửa đổi bổ sung 2007)
Quốc hội nước CHXHCNVN, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003
www. na.gov.vn
MỤC LỤC
A.MỞ BÀI
B.NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1. Khái niệm chất vấn và bản chất quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội
2. Quy trình chất vấn và trả lời chất vấn
3. Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động chất vấn
II. NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ TRONG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1. Những điểm hạn chế trong chất vấn của đại biểu Quốc hội
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội
2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động chất vấn
2.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động chất vấn
2.2.1. Đảm bảo điều kiện về chính trị- pháp lý theo định hướng xây dựng
nhà nứơc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2.2. Đảm bảo điều kiện về bộ máy tham mưu, giúp việc.
2.2.3. Đảm bảo điều kiện về tài chính
2.2.4. Các giải pháp về đại biểu Quốc hội.
C. KẾT BÀI
A. MỞ BÀI
Nhà nước Việt Nam nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc hội được xác định là cơ quan thay mặt cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Quốc hội cũng là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản của đất nước, thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quyền giám sát của Quốc hội và việc thực hiện quyền giám sát của Quốc Hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cuả cơ quan nhà nước. Một trong những hoạt động giám quan trọng của Quốc Hội là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn. Qua các khoá Quốc Hội, đặc biệt là các khoá Quốc Hội gần đây thì hoạt động chất vấn đã có nhiều tiến bộ, nhưng cũng còn nhiều hạn chế,có những chất vấn chưa thể hiện xứng tầm; chưa thật sự phát huy vai trò là cách thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, chưa phản ánh được lòng mong mỏi và nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy yêu cầu đặt ra là cần có những giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội để nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động này, đóng góp vào việc đổi mới tổ chức và cách hoạt động giám sát của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.Khái niệm chất vấn và bản chất quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội
Chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nứơc, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời. Chất vấn là hình thức giám sát quan trọng, là quyền quan trọng của đại biểu Quốc hội được Hiến pháp quy định.
Về bản chất, chất vấn là một hình thức được Quốc hội áp dụng để giám sát của các cơ quan và cá nhân được giao quyền, là sự thể hiện cụ thể, trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội khi thực hiện hoạt động chất vấn không phải nhằm mục đích thu thập thông tin hay số liệu mà nhằm làm rõ trách nhiệm của cá nhân có trách nhiệm đối với vấn đề nào đó. Đây chính là điểm cơ bản phân biệt chất vấn với câu hỏi thường.
2. Quy trình chất vấn và trả lời chất vấn
Chất vấn được thực hiện thông qua hình thức hỏi trực tiếp hay bằng văn bản, trả lời chất vấn cũng được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hay bằng văn bản.
Thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp được quy định tại điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Điều 25 Quy chế hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Điều 43 của Nghị quyết ban hành nội quy kỳ họp Quốc hội. Cụ thể như sau:
Đại biểu Quốc hội ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn. Đoàn thư ký kỳ họp giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của đại biểu Quốc hội để báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội xem xét quyết định.
Người bị chất vấn trả lời trực tiếp đầy đủ nội dung các vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục tại phiên họp Quốc hội theo thứ tự do Chủ toạ phiên họp nêu.
Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền đề nghịQuốc hội thảo luận tại phiên họp đó hay 1 phiên họp khác hay kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm với người bị chất vấn. Người đã trả lời chất vấn có trách nhiệm báo cáo với đại biểu Quốc hội bằng văn bản về việc thực hiện những vấn đề đã hứa khi trả lời chất vấn tại kỳ họp tiếp theo.
Việc chất vấn và trả lời chất vấn trong thời gian giữa 2 kỳ họp được thực hiện theo những trình tự sau đây:
Đại biểu Quốc hội ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn và gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo Ban công tác đại biểu giúp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tiếp nhận chất vấn của đại biểu Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn.
Tuỳ theo nội dung và tính chất của chất vấn, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể quyết định người bị chất vấn phải trả lời chất vấn bằng văn bản hay trả lời trực tiếp tại phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định cho người bị chất vấn trả lời bằng văn bản thì văn bản đó được gửi đồng thời tới Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội đã có câu trả lời chất vấn. Nếu không đồng ý với nội d...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status