Tiểu luận Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng - pdf 13

Download Tiểu luận Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng miễn phí



Xuất phát từ tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và vì lợi ích chung của gia đình nên mặc dù pháp luật quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng nhưng trong những trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ để đảm bảo đời sống chung của gia đình thì “ tài sản riêng của vợ chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình” ( khoản 4 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2000). Những tài sản đã chi dùng cho gia đình thì người có tài sản không được quyền đòi lại nữa. Trong những trường hợp cần chia tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về của người đó. Nhưng người có tài sản riêng phải chứng minh được tài sản đó là tài sản của riêng mình. Nếu người có tài sản không chứng minh được là tài sản của riêng mình thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng (Khoản 3 điều 27 luật hôn nhân gia đình 2000).


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38080/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

i chị B. Chị B đã nghe theo lời tán tỉnh của C và quan hệ rồi có thai với C, nhưng khi chị phát hiện ra mình có thai với C thì C đã sang nước ngoài cùng gia đình, chị B đã dùng mọi cách nhắn gọi nhưng C không về và từ chối trách nhiệm. Vì biết A yêu mình thật lòng, chị B đã lợi dụng tình cảm đó để đến với anh A, mục đích chính là để đứa con đang mang có cha và không bị tai tiếng với xóm làng. Tháng 12 năm 1962, anh A và chị B kết hôn với nhau, khi này chị B đã mang thai được gần 2 tháng nhưng anh A vẫn không hay biết gì. Chung sống với nhau được 3 tháng nữa thì ông D, bố của anh A đã bán đất và cho anh A 3 tỉ, cùng lúc đó thì C về nước, gặp lại B và muốn được làm cha đứa bé, nhưng mục đích là để dụ dỗ chị B, lấy tiền của chồng. Nghe lời C, B đã công khai quan hệ của mình với C,cho A biết sự thật về đưá con chị đang mang và từ bỏ mọi trách nhiệm là một người vợ của A. B đòi li hôn vì thấy không hợp anh A và cuộc sống với anh A không còn có tình yêu nữa, còn anh A thì không từ chối quyết định ly hôn đó vì cảm giác mình bị lừa dối. Khi toà xử ly hôn và chia tài sản thì số tài sản là 3 tỉ đồng của anh A đã được chia đôi cho chị B vì cho rằng khoản tiền đó chính là tài sản chung của 2 vợ chồng.
→ Qua cách phán xét của toà ở tình huống trên ta thấy sự bất hợp lí trong cách chia tài sản. Rõ ràng khoản tiền 3tỉ đồng là của anh A được bố cho riêng khi bán đất, tức là của riêng anh A, nhưng anh vẫn phải chấp nhận sự không công bằng khi phải chia đôi số tiền đó cho người vợ. Bởi khoảng thời gian toà xử vụ án này là khoảng thời gian áp dụng của luật hôn nhân và gia đình năm 1959 dựa vào 2 điều khoản sau:
Điều 15: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”
Điều 29: “Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình. Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất. Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất.” nên có thể thấy ở thời điểm đó toà xử như vậy là đúng với quy đinh của pháp luật. Tuy nhiên, xét trên thực tế thì anh A không có được sự công bằng, khoản tiền đúng là phát sinh trong thời kì hôn nhân nhưng đó là của bố anh A cho riêng anh A,nên chị B không có quyền được hưởng khối tài sản đó, chị B chỉ được hưởng duy nhất những gì của chung cả 2 vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
- Đó chính là sự bất hợp lí trong những quy định của pháp luật thời đó khi không quy đinh rõ ràng về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong trường hợp đó, để có thể lấy lại công bằng cho anh A đòi hỏi cần có những quy định của pháp luật về tài sản chung và riêng của vợ chồng và căn cứ chia tài sản của vợ và chồng khi ly hôn. Nếu không có được những quy định đó thì sẽ còn rất nhiều người phải chịu sự bất công khi tài sản của riêng mình phải đem ra chia như vậy. Không kể đến nếu như không có những quy định đó thì hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng càng diễn ra nhiều hơn. Điều đó là trái với pháp luật quy định cũng như đi ngược lại những giá trị đạo lí, truyền thống của dân tộc ta.
- Thời kì đất nước đổi mới, nhất là từ sau năm 1972, quyền tự do cá nhân, những nhu cầu riêng và quyền lợi của cá nhân đòi hỏi cần được bảo vệ nhất là trong các quan hệ dân sự. Đặc biệt trong quan hệ hôn nhân, khi tranh chấp xảy ra,mỗi bên vợ chồng phải có quyền lợi ngang nhau trong việc chia tài sản sau ly hôn.
- Hơn nữa, khi Hiến Pháp 1992 ra đời đã có chế định về quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân (điều 58 Hiến Pháp 1992), phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài sản của công dân.
→ Vì những vấn đề cần được giải quyết trên và sự phù hợp với hiến pháp 1992 quy định về quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân, những quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng đã ra đời là rất hợp lí và phần nào khắc phục được những vấn đề đó.
b. Những quy định về tài sản riêng ở Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959. 1986 và 2000
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 không quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Vì vậy, tất cả những tài sản mà vợ chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng.
Điều 15: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”
Điều này đã hạn chế việc vợ chồng tham gia vào các quan hệ xã hội khác và không phù hợp với quyền tự định đoạt về tài sản của công dân đã được Hiến Pháp thừa nhận.
- Đối với luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, do được ban hành vào thời kì đầu của sự nghiệp đổi mới, lần đầu ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng, tuy nhiên luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đã được thực hiện trong khoàng thời gian dài nên các quy định này đã dần trở thành tập quán trong đời sống xã hội và ý thức của nhân dân, nên khi dự liệu về tài sản riêng của vợ chồng, luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định khá mềm dẻo, nhằm tránh sự mất ổn định về vấn đề tài sản trong gia đình. Những quy định đầu tiên về tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng dần được hình thành. Theo điều 16 luật Hôn nhân và Gia đình 1986: “ Đối với tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hay cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hay không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”. Quy định này có tình chất “mở”, cho phép vợ chồng lựa chọn trong việc nhập hay không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng.
- Kế thừa và phát triển các quy định về tài sản riêng của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định chế độ sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng cụ thể hơn, tạo được cơ sở pháp lý thống nhất trong thực tế áp dụng. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, vợ chồng với tư cách là công dân, những tài sản do vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn hay được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân, xét về mặt bản chất kinh tế và pháp lí thì những tài sản đó thuộc sở hữu riêng của vợ chồng. Thêm vào đó là những quy định về tài sản riêng của vợ chồng trong luật Hôn nhân và Gia đình 1986 đã đi sâu vào ý thức trong nhân dân về việc tôn trọng tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng. Dựa trên cơ sở vững chắc đó, Luật hôn nhân và gia đình 2000 ra đời đã ghi nhận và khẳng định chắc chắn tại khoản 1 điều 32 : “Vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đ...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status