Đề tài Thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo qui định của bộ luật dân sự 2005 - pdf 13

Download Đề tài Thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo qui định của bộ luật dân sự 2005 miễn phí



MỤC LỤC
Chuyên đề1:“VỀTHỰC TẾXÉT XỬCỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC CÔNG
NHẬN HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở& HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬDỤNG ĐẤT” – Thẩm phán Phan Thanh Tùng– TAND Tp.HCM. 1
Chuyên đề2:“THỜI ĐIỂM GIAO KẾT VÀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA
HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘLUẬT DÂN SỰ2005” CÒN ĐÓ NHIỀU
QUY ĐỊNH CHƯA ĐẦY ĐỦ- ThS. LS. Trương ThịHoà – Đoàn LS Tp. HCM. 8
Chuyên đề3: “THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG VÀ VIỆC CÔNG
CHỨNG HỢP ĐỒNG” – LS. Huỳnh Văn Nông - Đoàn LS Tp. HCM. 13
Chuyên đề4: “THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO CÓ
ĐIỀU KIỆN THEO ĐIỀU 470 BỘLUẬT DÂN SỰ2005" – V Phan Văn Cheo–
Phòng Công chứng Sài Gòn . 19
Chuyên đề5:“THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI
SẢN” – TS. Dương Anh Sơn – Khoa Kinh tế, ĐHQG Tp. HCM. 22
Chuyên đề6: “THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG VÀ VẤN ĐỀXUNG ĐỘT
PHÁP LUẬT TRONG THỜI GIAN”- TS. ĐỗVăn Đại– ĐHL Tp. HCM. 28
Chuyên đề7:“THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUI ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN” –
NCS Lê Minh Hùng - ĐHL Tp. HCM . 41


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-37977/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

ợc qui định cụ thể tại Điều 404 BLDS 2005.
Với qui định này, nhà làm luật Việt Nam thừa nhận đồng thời hai loại thời điểm
khác nhau: thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Có thể nói, qui
định này là một điểm pháp lý khá thú vị và đặc thù, vì các BLDS trên thế giới hay các
Bộ Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế đều không có qui định tương tự như vậy.
Một số ý kiến cho rằng, các qui định của BLDS Việt Nam ít nhiều chịu ảnh
hưởng từ các BLDS của Pháp26, Đức, Nga,27 thậm chí là của Nhật. Nhưng tìm trong
BLDS của các nước nói trên, cũng như các Bộ Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc
tế đều không thấy các qui định tương đồng như Điều 405 BLDS 2005. Trong hầu hết
26
Hoàng Thế Liên (Cb), Sđd, tr. 17 – 8; Pierre Bézard, Hai trăm năm BLDS Pháp và ảnh hưởng đối với BLDS
Việt Nam, trích Kỷ yếu Hội thảo “Hai trăm năm Bộ luật Dân sự Pháp”, tổ chức tại Hà Nội, từ ngày 03/11 –
05/11/2004, tr. 47 - 69.
27
Phan Hữu Thư, Lê Thu Hà (Cb) Giáo trình Luật Dân sự, Nxb. CAND, H.2007, 83 – 4.
43
các bộ pháp điển về Luật Hợp đồng trên thế giới đều qui định về một loại thời điểm là
thời điểm giao kết hợp đồng, và thời điểm giao kết cũng là thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng. Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng trong hầu hết các bộ pháp điển
này đều dựa vào cách giao kết.
Thời điểm giao kết hợp đồng với người có mặt thường là thời điểm các bên thỏa
thuận xong nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, qui định về thời điểm giao kết hợp
đồng với người vắng mặt trong các bộ pháp điển lại có một sự khác biệt cơ bản. Theo
các luật gia, việc qui định về thời điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp này thường
dựa theo một trong các học thuyết: thuyết tuyên bố ý chí, thuyết vận tống (hay bày tỏ),
thuyết tiếp nhận và thuyết thông đạt.28 BLDS Đức không qui định về thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng, nhưng có qui định chung về thời điểm có hiệu lực của sự tuyên
bố ý chí, và qui định này cũng được áp dụng cả với việc giao kết hợp đồng: “Tuyên bố
ý chí đối với một người vắng mặt có hiệu lực vào thời điểm người đó nhận được tuyên
bố” (khoản 1 Điều 130). BLDS Liên bang Nga cũng có qui định tương tự: “hợp đồng
được giao kết tại thời điểm bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận” (khoản 1
Điều 433). Qui định này của BLDS Nga tương đồng với qui định tại khoản 1 Điều 404
BLDS 2005 của Việt Nam. Khác với các BLDS của Đức và Nga, BLDS của Pháp
không có qui định về thời điểm giao kết hợp đồng nói chung, mà chỉ có qui định về
thời điểm có hiệu lực của hai hợp đồng cụ thể là hợp đồng tặng cho (Điều 932) và hợp
đồng ủy quyền (khoản 2 Điều 1985). Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nói
chung, án lệ của Pháp cho rằng, “việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng…thuộc thẩm quyền của tòa án”, và theo quan điểm mới đây của Tòa Phúc thẩm,
“trường hợp các bên không có ý kiến ngược lại, thì áp dụng thuyết bày tỏ”, tức là khi
bên được đề nghị “trao thư trả lời chấp nhận cho bưu điện”.29 BLDS của Nhật Bản
cũng dựa trên thuyết “bày tỏ” (‘vận tống’) khi qui định rằng: “Hợp đồng giao kết với
những người vắng mặt có hiệu lực từ thời điểm trả lời chấp nhận đã được chuyển đi”
(đoạn 1 Điều 526). Qui định này của Nhật cũng tương đồng với nguyên tắc thư được
gửi đi - ‘postal rule’ (hay ‘mail-box’ rule) của các nước theo hệ thống pháp luật Anh -
Mỹ: hợp đồng được giao kết tại thời điểm thư trả lời chấp nhận được gửi đi.30
28
Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật - luợc khảo, Quyển II : Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất: Nguồn gốc của
nghĩa vụ, Nxb. Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn 1963, tr. 99 – 100; Corinne Renault – Brahinsky, Đại cương về
pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa Thông tin, H. 2002, tr. 38.
29
Corinne Renault – Brahinsky, Sđd, tr. 38.
30
David Oughton & Martin Davis, Sourcebook on Contract Law, 2nd ed., Cavendish, London 2000, tr. 59 - 61;
Richard Stone, The Modern Law of Contract, 5th ed., Cavendish, London 2002, tr. 49 -50; Nguyễn Ngọc Khánh,
Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam, Nxb. Tư pháp, H. 2007, tr. 248 – 9.
44
Xem xét qui định tại khoản 1 Điều 404 BLDS 2005 cho thấy, luật Việt Nam
chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi thuyết “tiếp nhận”: thời điểm hợp đồng giao kết với người
vắng mặt là thời điểm bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận.
Nói tóm lại, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm bắt đầu sự ràng
buộc pháp lý giữa các bên, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng, mà kể từ thời điểm đó các bên không được đơn phương thay đổi hay rút lại các
cam kết trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự nếu không thực hiện hay
thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng.
Việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa pháp lý quan
trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn sau đây:
(1) Về mặt lý luận, việc xác định hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng là cơ sở phân loại hợp đồng. Dựa vào tiêu chí này, hợp đồng được chia thành hợp
đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế.31 Theo đó, hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà
theo qui định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh ngay sau khi các
bên thỏa thuận xong nội dung chủ yếu của hợp đồng. Ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản,
hợp đồng thuê tài sản. Còn hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau khi thỏa thuận,
hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối
tượng của hợp đồng. Ví dụ: hợp đồng cho mượn tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản…
(2) Về mặt pháp lý, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là cơ sở pháp lý để xác
định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Kể từ thời
điểm này, các bên đã chính thức tạo lập nên quan hệ pháp luật về hợp đồng, đồng thời
các bên không thể tự ý rút lại, sửa đổi, hủy bỏ cam kết trong hợp đồng. Cũng từ thời
điểm này, hợp đồng có hiệu lực ràng buộc các bên giống như pháp luật. Bên có quyền
được phép yêu cầu bên có nghĩa vụ thi hành nghĩa vụ trong hợp đồng, và được hưởng
mọi quyền lợi hợp pháp phát sinh từ hợp đồng. Còn bên có nghĩa vụ phải thực hiện
đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, và phải chịu trách nhiệm dân sự trước
bên có quyền về việc vi phạm hợp đồng.
(3) Đối với các hợp đồng được công chứng, chứng thực hay đăng ký theo qui
định của pháp luật, việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng còn có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định hợp đồng có giá trị pháp lý đối kháng với người
thứ ba, thực hiện quyền ưu tiên thanh toán, và bảo vệ người thứ ba ngay tình. Ví dụ:
hợp đồng được công chứng thì có giá trị pháp lý đối với các bên liên quan;32 hay một
tài sản dùng để ...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status