Download Tiểu luận Các trường hợp miễn trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của Hague-Visby và minh họa bằng ví dụ thực tế miễn phí
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI VẬN CHUYỂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN THEO QUY TẮC HAGUE - VISBY 1
1. Khái niệm người vận chuyển. 1
2. Trách nhiệm của người vận chuyển. 1
2.1. Cơ sở trách nhiệm 1
2.2. Thời hạn trách nhiệm 1
2.3. Giới hạn trách nhiệm 1
II. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN THEO QUY TẮC HAGUE – VISBY 1968. 2
1. Tàu không có khả năng đi biển. 2
2. Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều IV của Quy tắc. 2
3. Trường hợp thuộc quy định tại khoản 4 Điều IV của Quy tắc. 2
4. Trách nhiệm vượt quá giới hạn. 2
5. Trường hợp thuộc điểm h khoản 5 Điều IV Quy tắc. 3
6. Trách nhiệm thuộc khoản 6 Điều IV Quy tắc. 3
III. VÍ DỤ MINH HỌA THỰC TIỄN. 3
C. KẾT LUẬN 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 6
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38951/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
A. MỞ ĐẦU
Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới. Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế với những ưu điểm nổi bật như: có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế, các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên, năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn, giá thành thấp. Vì vậy, càng ngày càng có nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước lựa chọn vận tải biển là cách vận chuyển hàng hóa chính trong kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm kể trên, vận tải hàng hải không tránh khỏi những hạn chết nhất định: phụ thuộc vào thời tiết, thời gian chậm,… vấn đề trên có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hàng hóa được vận chuyển. Vậy có phải trong mọi trường hợp hàng hóa bị hư hỏng thì người vận chuyển đều phải chịu trách nhiệm hay không. Để trả lời cho câu hỏi trên bài viết dưới đây sẽ hướng đến nội dung chính là: Các trường hợp miễn trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của Hague-Visby và minh họa bằng ví dụ thực tế.
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI VẬN CHUYỂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN THEO QUY TẮC HAGUE - VISBY
1. Khái niệm người vận chuyển.
Theo quy định tại điểm a Điều 1 Quy tắc Hague – Visby 1968 thì vai trò người vận chuyển có thể thuộc về chủ sở hữu của con tàu hay cũng có thể là người thuê tàu khi họ giao kết hợp đồng vận chuyển với khách hàng. Người vận chuyển chính là chủ thể quan trọng trong việc quy kết trách nhiệm cũng như phải chứng minh mình miễn trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa vận chuyển xảy ra vấn đề dẫn đến tổn thất cho khách hàng.
2. Trách nhiệm của người vận chuyển.
Trách nhiệm của người vận chuyển nói chung và theo Quy tắc Hague – Visby 1968 được đề cập dựa theo 3 nội dung: Cơ sở trách nhiệm, thời hạn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm.
2.1. Cơ sở trách nhiệm
Cơ sở trách nhiệm là những trường hợp mà người vận chuyển phải chịu trách nhiệm cũng như được miễn trách nhiệm. Quy tắc Hague – Visby 1968 (sau đây gọi tắt là Quy tắc) quy định ở Điều III khoản 1 là người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về những mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa, cũng như chậm giao hàng, nếu người khiếu nại chứng minh được rằng mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng xảy ra trong phạm vi thời hạn trách nhiệm của người vận chuyển, tức là khi hàng hóa được chuyên chở bằng đường biển, người vận chuyển trước và lúc bắt đầu hành trình phải có sự mẫn cán hợp lý để:
- Làm cho tầu có đủ khả năng đi biển;
- Biên chế, trang bị và cung ứng thích ứng cho tàu;
- Làm cho các hầm, phòng lạnh, phòng phát lạnh và tất cả các bộ phận khác của con tàu dùng vào việc chuyển chở hàng hoá thích ứng an toàn cho việc tiếp nhận, chuyên chở, bảo quản hàng hoá.
Đây còn được coi là trách nhiệm thương mại của người vận chuyển đối với hàng hóa (tức là trách nhiệm chăm sóc và bảo quản hàng hóa trong suốt quá trình chuyên chở của người vận chuyển).
2.2. Thời hạn trách nhiệm
Điểm e Điều I Quy tắc quy định "Vận chuyển hàng hóa" bao trùm khoảng thời gian từ lúc xếp hàng hoá lên tàu cho đến lúc dỡ hàng hoá đó khỏi tàu”. Như vậy có thể hiểu trách nhiệm của người vận chuyển bắt đầu kể từ khi người vận chuyển hoặc bên thực hiện (người vận chuyển thực tế) nhận hàng chuyên chở ở nơi đi cho đến khi dỡ hàng hóa ra khỏi tàu đó.
2.3. Giới hạn trách nhiệm
Khoản 5 Điều 4 của Quy tắc quy định giới hạn bồi thường của người vận chuyển khi vi phạm nghĩa vụ là: không vượt quá 10. 000 frăng mỗi kiện hàng hay đơn vị hàng hoá hay 30 frăng mỗi kilo trong tổng trọng lượng tính cả bì của hàng hoá mất mát hay hư hỏng, trừ khi tính chất và giá trị của hàng hoá này đã được người gửi hàng kê khai trước khi xếp hàng và được ghi vào vận đơn.
II. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN THEO QUY TẮC HAGUE – VISBY 1968.
Các trường hợp được miễn trách nhiệm của người vận chuyển được quy định tại Điều 4 Quy tắc HAGUE-VISBY (1968), theo đó trách nhiệm của người vận chuyển được miễn trong các trường hợp sau:
1. Tàu không có khả năng đi biển.
Trường hợp trên được quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy tắc HAGUE-VISBY 1968. Trường hợp này quy định người chuyên trở sẽ không phải chịu trách nhiệm với những mất mát hay thiệt hại phát sinh hay là hệ quả của tàu không có khả năng đi trên biển. Để được miễm trách nhiệm trong trường hợp này, người chuyên chở phải thỏa mãn hai điều kiện:
- Thứ nhất: người chuyên chở đã có sự cần mẫn thích đáng phù hợp với những qui định của Ðiều III đoạn 1. Tức là người chuyên chở đã thực hiện hết khả năng của mình trong việc bảo đảm cho tàu có khả năng đi biển, đảm bảo cho các khu vực dùng để chở hàng thích hợp và an toàn cho việc tiếp nhận, chuyên chở và bảo quản hàng hóa thích hợp nhưng vì một lý do nào đó mà tàu không có khả năng đi biển hay khu vực để bảo quản, chuyên chở hàng không phù hợp dẫn đến những mất mát thiệt hại thì hoàn toàn không phải do lỗi của người chuyên chở mà được coi là phát sinh nằm ngoài khả năng ngăn chặn không cho nó xảy ra của người chuyên chở.
+ Thứ hai: người chuyên chở có nghĩa vụ chứng minh rằng đã thực hiện sự cần mẫn thích đáng và sự cố xảy ra nằm ngoài phạm vi khả năng kiểm soát. Nếu người đó không chứng minh hay không chứng minh được thì có thể coi lỗi thuộc về người chuyên chở họ phải chịu trách nhiệm do có lỗi.
2. Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều IV của Quy tắc.
Khoản 2 Điều IV của Quy tắc liệt kê 17 trường hợp người vận chuyển được miễn trách nhiệm. Ví dụ: Cháy, thiên tai, chiến tranh,… Đặc điểm chung cho thấy các trường hợp trên đều xuất phát từ nguyên nhân khách quan dẫn đến thiệt hại, mất mát; không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người chuyên chở. Thiệt hại, tổn thất xảy ra nằm ngoài khả năng khống chế của họ, do đó họ không có lỗi nếu như thiệt hại xảy ra. Chính vì vậy mà đây cũng là những trường hợp mà người chuuyên chở sẽ được miễn trách nhiệm.
3. Trường hợp thuộc quy định tại khoản 4 Điều IV của Quy tắc.
Đây là trường hợp người chuyên chở đã dịch chuyển trệch hướng dẫn tới hệ quả xảy ra mất mát hay hư hỏng. Nhưng sự trệch đi này xuất phát từ nguyên nhân nhằm mục đích cứu hay cố gắng cứu tính mạng hay tài sản trên biển hay bất kỳ sự đi chệch hướng nào khác. Mặc dù hành động đi trệch hướng là hành động cố ý của người chuyên chở, họ hoàn toàn có thể ý thức được hành động này của mình, nhưng mục đích của hành động không phải là nhằm gây ra thiệt hại mà nhằm mục đích chính đáng khác được pháp lu