Download miễn phí Luận văn Quan hệ Việt Nam - EU qua các thời kỳ
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I. THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO 8
1.1. Tình hình thế giới và khu vực những năm 80 và đầu thập kỷ 90: 8
1.2. Tình hình Việt Nam, EU và quan hệ Việt Nam với một số nước Tây Âu: 9
1.2.1. Tình hình Việt Nam: 9
1.2.2. Tình hình EU: 10
1.2.3. Quan hệ Việt Nam với các nước Tây Âu: 12
1.3. Thiết lập quan hệ ngoại giao: 13
CHƯƠNG II. QUAN HỆ VIỆT NAM - EU QUA CÁC THỜI KỲ 18
2.1. Quan hệ Việt Nam - EU giai đoạn 1990 - 1995: bước đi ban đầu 18
2.2. Giai đoạn 1995 - 2010: xây dựng và phát triển một quan hệ toàn diện 30
2.2.1. Tình hình thế giới, khu vực, EU và Việt Nam: 30
2.2.2. Quan hệ Việt Nam - EU: 34
2.2.3. Một số vấn đề lớn, có tác động quan trọng đến quan hệ Việt Nam - EU: 55
CHƯƠNG III. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ VIỆT NAM - EU ĐẾN NĂM 2020 74
3.1. Xu hướng phát triển của tình hình quốc tế đến năm 2020: 74
3.3. Đại hội XI, công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của ta và nhu cầu đẩy mạnh quan hệ với các đối tác lớn, trong đó có EU : 88
3.4. Triển vọng quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2020: 90
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
BẢN ĐỒ CHÂU ÂU 123
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I. THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO 7
1.1. Tình hình thế giới và khu vực những năm 80 và đầu thập kỷ 90: 7
1.2. Tình hình Việt Nam, EU và quan hệ Việt Nam với một số nước Tây Âu: 8
1.2.1. Tình hình Việt Nam: 8
1.2.2. Tình hình EU: 10
1.2.3. Quan hệ Việt Nam với các nước Tây Âu: 11
1.3. Thiết lập quan hệ ngoại giao: 12
CHƯƠNG II. QUAN HỆ VIỆT NAM - EU QUA CÁC THỜI KỲ 17
2.1. Quan hệ Việt Nam - EU giai đoạn 1990 - 1995: bước đi ban đầu 17
2.2. Giai đoạn 1995 - 2010: xây dựng và phát triển một quan hệ toàn diện 27
2.2.1. Tình hình thế giới, khu vực, EU và Việt Nam: 27
2.2.2. Quan hệ Việt Nam - EU: 31
2.2.3. Một số vấn đề lớn, có tác động quan trọng đến quan hệ Việt Nam - EU: 48
CHƯƠNG III. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ VIỆT NAM - EU ĐẾN NĂM 2020 65
3.1. Xu hướng phát triển của tình hình quốc tế đến năm 2020: 65
3.2. Vai trò, vị thế của EU và xu hướng chính sách đối ngoại của EU: 67
3.3. Đại hội XI, công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của ta và nhu cầu đẩy mạnh quan hệ với các đối tác lớn, trong đó có EU : 78
3.4. Triển vọng quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2020: 80
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-11-luan_van_quan_he_viet_nam_eu_qua_cac_thoi_ky.VbZVXyFG7B.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-40007/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
đầu vì đây là những thị trường tiềm năng, có độ bảo hộ cao đối với những mặt hàng xuất khẩu của EU. Ngoài ra, Ấn Độ, Nga, Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh cũng là các đối tác EU quan tâm. Trung Quốc mặc dù đáp ứng các tiêu chí thiết lập FTA, tuy nhiên EU tỏ rất thận trọng vì cho rằng thị trường này có rất nhiều thách thức.
Xét về lợi ích kinh tế thuần túy, so với các đối tác lớn khác trong Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản thì ASEAN có vị trí không quan trọng bằng (Nhật Bản và Trung Quốc chiếm 55% thị trường tương lai của EU tại Châu Á). Nghiên cứu về tác động của FTA EU - ASEAN do EU đưa ra cho thấy kể cả trong trường hợp hai bên đạt được một FTA tham vọng (0% thuế quan cho tất cả các mặt hàng và giảm 50% các rào cản dịch vụ) thì GDP của EU chỉ tăng lên 0,1% và GDP của ASEAN tăng 2,2%. Theo Ngân hàng thế giới, từ năm 2005 - 2025, tiềm năng tăng trưởng hàng năm thị trường EU với Mỹ là cao nhất với 449 tỷ Euro (tăng 3,2%/năm), trong khi với Trung Quốc là 204 tỷ Euro (tăng 6,6%/năm), với Nhật Bản là 74 tỷ Euro (tăng 1,6%/năm) trong khi đó toàn bộ ASEAN chỉ chiếm 57 tỷ Euro (tăng 4,9%/năm). Vì vậy, có thể thấy tác động kinh tế của việc đạt được FTA với ASEAN đối với EU khá hạn chế, lợi ích chủ yếu nghiêng về ASEAN. Lợi ích kinh tế của EU trong FTA với Việt Nam cũng không quá lớn mặc dù Việt Nam được coi là một trong những thị trường tiềm năng và hứa hẹn nhất trong ASEAN với nền chính trị ổn định, hệ thống pháp lý đang được hoàn thiện phù hợp hơn với các quy định của WTO.
Như vậy, nhân tố chính trị đóng vai trò quan trọng hơn trong quyết định của EU đàm phán FTA với các nước ASEAN. Trước tình hình các đối tác Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, New Zealand, Ấn Độ đều đã thiết lập FTA song phương và khu vực với ASEAN. Mỹ và Canada cũng có bước đi cụ thể thắt chặt quan hệ với ASEAN thì EU cũng buộc phải tăng tốc tiến tới đàm phán FTA với ASEAN và sau khi đàm phán khu vực bị thất bại thì chuyển sang đề nghị đàm phán song phương.
Với việc đàm phán FTA với Việt Nam, EU còn nhắm đến những mục đích khác như thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư Châu Âu, cho phép các doanh nghiệp EU tham gia vào lĩnh vực mua sắm công, thúc đẩy cải cách thể chế ở Việt Nam… Với việc ASEAN thiết lập các FTA với các nước Đông Bắc Á và một số nước đã tham gia đàm phán TPP như Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam, việc đạt được FTA sẽ giúp hàng hóa từ Châu Âu bảo đảm được sức cạnh tranh trước các đối tác khác như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Mỹ tại thị trường ASEAN.
Bên cạnh đó, với một FTA với Việt Nam, các nhà sản xuất từ Châu Âu sẽ có điều kiện thuận lợi hơn thâm nhập các thị trường rộng lớn của Đông Bắc Á. Trên thực tế, việc cải thiện môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư Châu Âu cũng là một trong những quan tâm của EU khi đặt vấn đề đàm phán FTA với các nước ASEAN. EU tỏ ra rất quan tâm đến thị trường dịch vụ còn non trẻ và chưa được mở cửa hoàn toàn ở Việt Nam. Trong khi ngành dịch vụ luôn là thế mạnh của Châu Âu và đem lại lợi nhuận lớn cho các doanh nghiệp nước này. Với dân số đông và trẻ, Việt Nam là một thị trường rất tiềm năng. Đặc biệt, EU cũng rất quan tâm đến các dự án mua sắm chính phủ, nhất là các dự án BOT của Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay khi ta vẫn đang trong quá trình xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án này có thể một mặt đem lại lợi nhuận lớn cho các nhà thầu Châu Âu, mặt khác giúp ta nâng cao chất lượng đấu thầu các công trình. Việc đàm phán FTA, bên cạnh những lợi ích kinh tế, còn có thể giúp Việt Nam cải cách các thể chế kinh tế, từ đó hội nhập hiệu quả hơn vào nền kinh tế quốc tế.
Nếu đi vào đàm phán ký kết FTA với EU, Việt Nam sẽ gặp những thách thức nhất định tuy nhiên, các lợi ích kinh tế đạt được sẽ khá rõ ràng:
(i) ta hiện là nước xuất siêu sang EU. Việc tiếp tục dỡ bỏ các rào cản thương mại của EU sẽ là cú hích quan trọng để tiếp tục gia tăng xuất khẩu. EU là thị trường lớn với quy mô hơn 500 triệu dân. Hiện tại, xuất khẩu của ta sang EU mới đạt trên 10 tỷ USD, chỉ bằng 0,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của khối, vì vậy cơ hội và tiềm năng còn nhiều. Hơn nữa, chỉ 42% kim ngạch xuất khẩu của ta sang EU được hưởng mức thuế 0%, thấp hơn nhiều so với của Malaysia và Philippines là khoảng 80 - 85%;
(ii) ta nhập khẩu từ EU chủ yếu các loại máy móc, thiết bị, dược phẩm, hóa chất cơ bản… đa phần là các mặt hàng đã có thuế suất nhập khẩu bằng 0% hay rất thấp. Vì vậy, không làm ảnh hưởng nhiều đến thu ngân sách. Mặt khác, ta sẽ có lợi thế được nhập các mặt hàng công nghệ chất lượng cao từ EU;
(iii) với việc thiết lập FTA, đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam sẽ tăng lên;
(iv) FTA với EU sẽ giúp ta có mức thuế nhập khẩu tương đương với GSP. GSP là ưu đãi đơn phương, EU có thể dành cho hay rút lại. Nếu có FTA, mức thuế nhập khẩu ưu đãi 0% sẽ được duy trì lâu dài, thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu của ta.
Nhìn chung, đối với Việt Nam, triển vọng đạt được lợi ích kinh tế thiết thực từ FTA với EU là tương đối lớn.
e/ Thuế chống bán phá giá giày mũ da Việt Nam:
Trong 10 loại hàng hóa của Việt Nam phải chịu thuế chống bán phá giá của EU thì thuế chống bán phá giá đối với giày mũ da đã gây ra nhiều tác động tiêu cực nhất không chỉ về kinh tế mà còn cả xã hội, việc làm, xóa đói giảm cùng kiệt và tác động đến quan hệ Việt Nam - EU.
Tháng 7/2005, theo yêu cầu của các hiệp hội sản xuất giày da tại một số nước thành viên, Ủy ban Châu Âu đã khởi kiện chống bán phá giá đối với giày mũ da nhập khẩu từ Việt Nam (và Trung Quốc). Kết thúc quá trình điều tra, tháng 10/2006, Ủy ban Châu Âu quyết định áp thuế chống bán phá giá ở mức 10% thời hạn 2 năm đối với Việt Nam (16,5% đối với Trung Quốc). Trong thời gian 2 năm bị áp thuế, lượng giày mũ da của Việt Nam xuất khẩu vào EU đã giảm đáng kể, đồng thời gây tác động tiêu cực tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp ngành da giày và tới đời sống của hơn nửa triệu lao động Việt Nam, trong đó chủ yếu là nữ. Mức thuế này cũng đẩy các doanh nghiệp quy mô nhỏ vào nguy cơ phá sản. Tác động đó càng nghiêm trọng hơn trong bối cảnh tháng 6/2008, EU đưa ngành da giày Việt Nam ra khỏi diện được hưởng ưu đãi GSP giai đoạn 2009 - 2011.
Trong khi đó, Việt Nam cung cấp các thông tin khẳng định không bán phá giá, các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao là do ngành công nghiệp da giày Việt Nam có công nghệ tiên tiến, có lợi thế giá nhân công rẻ; cho rằng quyết định của EU là không công bằng, không phản ánh đúng thực tế hoạt động sản xuất, xuất khẩu giày da của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần tự do hóa thương mại mà EU khuyến khích, trái với mục tiêu của các chương trình trợ giúp xóa đói, giảm cùng kiệt mà EU và các nước thành viên dành cho Việt Nam, không phù hợp quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và EU. Việc áp thuế ngược lại còn ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của 450 triệu người tiêu dùng E...