Download miễn phí Tiểu luận Tình hình thực thi chính sách lãi suất cơ bản giai đoạn 2000 - 2010
1. Tình Hình Chung Của Nền Kinh Tế.
a. Năm 2000 - 2001.
Tuy được nhắc đến trong Luật Ngân hàng Nhà nước và luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998, song lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 2000. Trong lần đầu được công bố, lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm theo quyết định 242/2000/QĐ - NHNN.
Đến ngày 02/08/2000 thay thế cơ chế lãi suất : tăng lãi suất cơ bản công bố lần đầu ngày 30/05/2000 là 7,2%/năm lên 9%/năm ngày 05/08/2000.
Thời kỳ này, nền kinh tế đi vào thời kỳ giảm phát:
+ Giá cả liên tục giảm.
+ Tình trạng ứ đọng sản phẩm, sản suất cầm chừng đặc biệt là khu vực nhà nước.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm còn 6,75%/năm
+ Tình trạng ứ đọng vốn ở các ngân hàng lớn
Lãi suất cơ bản năm 2001 thay đổi 4 lần từ 9%/năm xuống còn 7,2%/năm.
Đến tháng 5-2001, ngân hàng nhà nước từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-27-tieu_luan_tinh_hinh_thuc_thi_chinh_sach_lai_suat_c.ca0jZintFj.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-47416/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
à nước nhưng sự tồn tại của chúng gần như chỉ trên giấy hay máng tính chất chỉ định
+ Hầu hết các giao dịch của ngân hàng nhà nước với tổ chức tín dụng đều theo lãi suất chỉ định
+ Lãi suất “Trần – Sàn ’’ do ngân hàng nhà nước quy định cũng không phản ánh đúng bản chất về giá vốn trên thi trường
+ Năm 1997: Luật ngân hàng nhà nước ra đời
- Được nhắc đến trong Luật Ngân hàng Nhà nước và luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998,
- Song lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 2000. Trong lần đầu được công bố, lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm.
2.Khái niệm
Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam,do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.
3. Các nhân tố tác động đến lãi suất cơ bản
- Tỷ lệ lạm phát:
ảnh hưởng đến sự biến động của lãi suất cơ bản. Khi tỷ lệ lạm phát tăng dẫn đến lãi suất cơ bản tăng và ngược lại
- Mức cung tiền tệ.
- Chính sách kinh tế của Nhà Nước:
Khi Nhà Nước hạn chế đầu tư và phát triển thì lãi suất sẽ cao và ngược lại khi nhà nước tăng cường khuyến khích đầu tư thì lãi suất sẽ thấp, tăng trưởng tín dụng và mức tăng trên tổng phương tiện thanh toán.
- Tăng trưởng tín dụng và mức tăng tổng phương tiện thanh toán: Là hai nhân tố rất nhạy cảm với lãi suất cơ bản, thường được dung làm căn cứ cho việc điều chỉnh lãi suất cơ bản ở Việt Nam.
4. Cách xác định lãi suất cơ bản:
Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn. Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.
5. Các tác động của chính sách lãi suất cơ bản
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng của lãi suất lên tổng cầu
, và đó cũng là điểm mấu chốt để sử dụng lãi suất trong việc quản lý kinh tế. Trong cấu phần của tổng cầu có hai yếu tố sẽ chịu tác động trực tiếp của việc thay đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư. Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống khi lãi suất tăng lên là do giá cả của việc vay mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn. Đối với đầu tư, chi phí vay mượn tăng làm cho khả năng sinh lời của các khoản đầu tư trở nên thấp hơn. Vì thế mà việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm mức độ đầu tư, tuy nhiên, mức độ đầu tư giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so với lãi suất. Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và nhà đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại. Sự thay đổi đó được thể hiện bằng sự dịch chuyển của đường tổng cầu (xem Biểu đồ 1).
Biểu 1: Ảnh hưởng lãi suất đến tổng cầu
Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu. Cơ chế truyền dẫn của lãi suất đến lạm phát thường được mô tả như sau: (xem Biểu đồ 2).
Biểu 2: Từ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Tổng cầu
Lạm phát
Áp lực lạm phát nội địa
Giá nhập khẩu
Sản lượng
Lãi suất chính thức (*)
Lãi suất thị trường
Giá bất động sản
Kỳ vọng thị trường
Tỷ giá
Cầu nội địa
Cầu ròng bên ngoài
(*)Trong đó, lãi suất chính thức là lãi suất chỉ đạo của Ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở tham khảo một cách chuẩn mực (Ví dụ như Federal Fund rate của Mỹ, Overnight rate của Anh) để các Ngân hàng thương mại hình thành nên các mức lãi suất huy động và cho vay đối với nền kinh tế, đồng thời các mức lãi suất này cũng là một chỉ báo về động thái điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Tại phần lớn các nước, tỷ lệ lãi suất chính thức – thường được gọi là lãi suất cơ bản, lãi suất chuẩn, sẽ phát huy vai trò truyền dẫn tác động của Chính sách tiền tệ đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô (tăng trưởng, lạm phát,việc làm,….)
TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CƠ BẢN GIAI ĐOẠN 2000 - 2010.
1. Tình Hình Chung Của Nền Kinh Tế.
a. Năm 2000 - 2001.
Tuy được nhắc đến trong Luật Ngân hàng Nhà nước và luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998, song lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 2000. Trong lần đầu được công bố, lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm theo quyết định 242/2000/QĐ - NHNN.
Đến ngày 02/08/2000 thay thế cơ chế lãi suất : tăng lãi suất cơ bản công bố lần đầu ngày 30/05/2000 là 7,2%/năm lên 9%/năm ngày 05/08/2000.
Thời kỳ này, nền kinh tế đi vào thời kỳ giảm phát:
+ Giá cả liên tục giảm.
+ Tình trạng ứ đọng sản phẩm, sản suất cầm chừng đặc biệt là khu vực nhà nước.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm còn 6,75%/năm
+ Tình trạng ứ đọng vốn ở các ngân hàng lớn
Lãi suất cơ bản năm 2001 thay đổi 4 lần từ 9%/năm xuống còn 7,2%/năm.
Đến tháng 5-2001, ngân hàng nhà nước từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng.
Với những biện pháp đã áp dụng đã chặn được giảm sút về tăng trưởng kinh tế ; mức tổng cầu đã tăng lên đáng kể, đầu tư cho phát triển kinh doanh đã được phục hồi nhanh: năm 2000 đã tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên 14,6% so với năm 1999;chi tiêu của Chính phủ thể hiện qua ngân sách nhà nước cũng tăng lên rõ rệt; nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng lên khá nhanhNếu 6 tháng đầu năm 1999 khi chưa thực thi chính sách thì tổng mức bán lẻ và dịch vụ chỉ tăng 1,5%thì năm 2000 chỉ tiêu này là 9,1%; Xuất khẩu đã tăng từ 2% năm 1998 lên 23,3% năm 1999 và 25% năm 2000, năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 15,1 tỷ đô la tăng 45% so với năm 2000; tình trạng ứ đọng hàng hoá , không tiêu thụ được trong năm 1998 dã được đảy lùi; sản xuất có bước chuyển biến tích cực cả trong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ ; vốn đầu tư nước ngoài có dấu hiệu phục hồi, năm 2000có vốn đăng ký là 1,973 tỷ USD tăng so với 1,568 tỷ USD năm 1999, năm 2001 tổng số vốn đăng ký đã tăng lên con số 3 tỷ USD; tình trạng vốn ứ đọng trong các ngân hàng đã phần nào được giải quyết.
b. Năm 2002
- Tình hình kinh tế năm 2002 có nhiều sự khởi sắc mới , nhờ có sự cố gắng , nỗ lực của các nghành, các cấp năm 2002 chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế . Mặc dù năm 2002 tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, nhưng nước ta vẫn đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế là 7,04%, tỉ lệ tăng trưởng cao thứ hai trong khu vực Châu á chỉ sau có Trung Quốc(8%). Tình hình giá cả đầu năm 2002 của chúng ta đã tăng lên tương đối nhanh, 6 tháng đầu năm giá cả đã tăng 2,9%, khi đó rất nhiều nhà kinh tế đã lo ngại rằng nếu chúng ta khôn...