Phân tích lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế - pdf 16

Download miễn phí Tiểu luận Phân tích lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế



MỤC LỤC
 
Mục lục 1
Mở đầu 2
Nội dung 3
I Lý luận của chủ nghĩa Trọng thương 4
II Lý luận của chủ nghĩa Trọng nông 4
III Các lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh 5
1 William Petty – Người đầu tiên đưa ra nguyên lý lao động quyết định giá trị trong kinh tế chính trị học tư sản 8
2 Adam Smith – Người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thường còn tồn tại trong lý luận của ông 9
3 Lý luận về giá trị lao động của David Ricacdo đã đạt tới đỉnh cao của kinh tế chính trị học cổ điển của giai cấp tư sản 11
IV Những lý luận của kinh tế chính trị tư sản tầm thường 15
1 Tính tầm thường trong lý luận giá trị của Thomas Robert Malthus 16
2 Lý luận của Jean Baptisste Say 16
V Trường phái của các nhà tiểu tư sản 18
1 Những lý luận của Simonde de Sismondi 18
2 Những lý luận của Proudhon 19
VI Lý luận giá trị trong học thuyết kinh tế Marx - Lenin 21
VII Trường phái của các nhà kinh tế tư sản hiện đại: 24
Kết luận 25
 
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

i để đáp ứng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời.
Theo Marx, kinh tế chính trị học cổ điển Anh bắt đầu từ William Petty và kết thúc ở David Ricacdo.
1-/ William Petty – Người đầu tiên đưa ra nguyên lý lao động quyết định giá trị trong kinh tế chính trị học tư sản:
William Petty (1623-1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổ điển ở Anh. Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, có trinh độ tiến sĩ vật lý, là nhạc trưởng, là người phát minh ra máy chữ. Ông là người áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học, được gọi là phương pháp khoa học tự nhiên.
Trong tác phẩm “Bàn về thuế khoá và lệ phí”, 1662 W.Petty nghiên cứu về giá cả, chia giá cả thành hai loại: Giá cả tự nhiên và giá cả chính trị. Theo ông giá cả chính trị (giá cả thị trường) phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên, nó thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường, do đó khó xác định; Còn giá cả tự nhiên (tức giá trị) là do thời gian lao động hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó. Như vậy, Petty là người đầu tiên đã tìm thấy cơ sở giá cả tự nhiên là lao động, thấy được quan hệ giữa lượng giá trị và năng suất lao động. Ông kết luận rằng: số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị hàng hoá. Giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàng và bạc. Ông có ý định đặt vấn đề lao động phức tạp và lao động giản đơn nhưng không thành.
Như vậy, W.Petty chính là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động. Tuy lý thuyết giá trị - lao động của ông còn có những hạn chế chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả. Ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lượng. Ông nhận thức được rằng giá trị của tiền tệ cũng là do lượng lao động quyết định, từ đó khắc phục được các kiến giải không những không thể trừu tượng hoá được giá trị từ giá trị trao đổi, mà còn không trừu tượng hoá được giá trị trao đổi từ giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà ông đã lẫn lộn hai cái đó. Ông cũng chia lao động ra làm hai loại: một loại lao động sản xuất ra vàng và bạc, một loại khác là lao động sản xuất ra những hàng hoá bình thường. Ông cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng và bạc mới có giá trị trao đổi, còn các lao động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiền mới này sinh giá trị trao đổi. Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy. Đó là ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa Trọng thương rất nặng ở ông.
Petty đã lẫn lộn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tượng với lao động cụ thể. Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai đơn vị lao động và đất đai. Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải”. Về phương diện của cải nói như vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng. Nhưng cái mà ông muốn nói đến là giá trị, ông nói: việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuất phát từ hai yếu tố tự nhiên, tức là đất đai và lao động. Nói như vậy ông đã đi ngược lại kết luận đúng đắn của chính mình là giá trị được quyết định bởi thời gian lao động hao phí trong quá trình sản xuất hàng hoá.
2-/ Adam Smith – Người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thường còn tồn tại trong lý luận của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên thế giới. Ông là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản, ông muốn thủ tiêu tàn tích phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, kêu gọi tích luỹ và phát triển lực lượng sản xuất theo ý nghĩa tư bản, xem chế độ tư bản chủ nghĩa là hợp lý duy nhất. Marx coi A.Smith là nhà kinh tế học tổng hợp của công trường thủ công.
A.Smith đã phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng với giá trị trao đổi. Ông nói: “Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng như là một vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật nào đó mà có được đối với vật khác. Cái trước gọi là giá trị sử dụng, và cái sau gọi là giá trị trao đổi”. Ông còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn thường có giá trị trao đổi cực nhỏ, thậm chí còn không có. Ví dụ: “Không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó thì không thể mua được gì”. Ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi rất lớn, thường có giá trị sử dụng cực nhỏ, thậm chí không có. Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm giá trị sử dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giá trị trao đổi lớn hay nhỏ không liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là công lao của A.Smith. Nhưng ông cho rằng những thứ không có giá trị sử dụng có thể có giá trị trao đổi thì lại sai lầm.
Theo A.Smith giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị trao đổi là do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định. Đó là khái niệm đúng đắn về giá trị. Lao động là thước đo thật sự để xác định giá trị trao đổi của mọi thứ hàng hoá. Việc xác nhận lao động quyết định giá trị hàng hoá là công lao và thành tích khoa học của ông. Nhưng ông không hiểu được tính chất xã hội của loại lao động này. Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêm xem lao động gì quyết định giá trị của hàng hoá , lao động xác định giá trị hàng hoá như thế nào thì ông rơi vào hỗn loạn. Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá trị hàng hoá là lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá. Lượng giá trị của hàng hoá tỷ lệ thuận với lượng thời gian lao động hao phí trong sản xuất. Đồng thời ông còn nghiên cứu sự phân biệt giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, ông cho rằng trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra giá trị nhiều hơn là lao động đơn giản. Nhưng đồng thời ông lại cho rằng giá trị một hàng hóa bằng số lượng lao động mà người ta có thể mua được nhờ hàng hoá đó. Đây là điều luẩn quẩn và sai lầm của A.Smith, dùng giá trị quyết định giá trị. Ông đã lẫn lộn vấn đề giá trị đã được quyết định như thế nào trong sản xuất và giá trị đã biểu hiện như thế nào trong trao đổi.
Về cấu thành giá trị của hàng hoá. Theo A.Smith trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như mọi giá trị trao đổi. A.Smith coi tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn. Song ông lại tầm thường ở chỗ coi...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status