Download miễn phí Đề tài Pháp luật về bảo tồn di sản và giải quyết tranh chấp môi trường
Mục lục
A. Pháp luật bảo tồn di sản
I. Di sản văn hóa
1. Khái niệm
2. Tiêu chí đánh giá di sản
3. Xếp hạng di sản
4. Quy định xếp hạng
5. Thực trạng di sản ở Việt Nam
II. Pháp luật bảo tồn di sản
1. Hệ thống văn bản Pháp luật
2. Quy định chung bảo vệ di sản văn hóa vật thể
3. Các quy định cụ thể bảo vệ di tích.
4. Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm luật bảo tồn di sản.
5. Thực trạng áp dụng luật bảo tồn di sản
III. Giải pháp kiến nghị
B. Giải quyết tranh chấp môi trường
I. Lý luận chung
1. Khái niệm
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường
3. Thực trạng tranh chấp môi trường của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
4. Thực trạng tranh chấp môi trường ở Việt Nam.
II. Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường.
1. Hệ thống văn bản pháp luật
2. Nội dung pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường
3. Thực trạng áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam
III. Kiến nghị giải pháp
Tài liệu tham khảo
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-21-de_tai_phap_luat_ve_bao_ton_di_san_va_giai_quyet_t.u6W9d8HQcQ.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56478/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
n, Lạng Sơn, Hà Tây, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Đồng Nai và Tiền Giang. Thông qua kết quả điều tra, 6 ngôi nhà tại 6 tỉnh được tu bổ đã giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn các ngôi nhà ở truyền thống, một bộ phận quan trọng của kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn đầu tư xây dựng nhà trưng bày tại khu di tích Mỹ Sơn, bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA), UNESCO và Quỹ Leici Foundation của Italy giúp tu bổ khu tháp G (Mỹ Sơn). Hiện nay, Cục Di sản văn hóa và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ha Nội, Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, cộng đồng nhân dân xã Đường Lâm đang tiếp tục phối hợp với chuyên gia Nhật Bản từng bước triển khai việc bảo tồn Làng cổ Đường Lâm. Chính phủ Nhật Bản và nhiều tố chức quốc tế, cá nhân mong muốn tham gia hỗ trợ việc nghiên cứu bảo tồn Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu, sự hỗ trợ của UNESCO thời gian qua trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên là rất có hiệu quả.
Về bảo tàng: Những quy định mới trong Luật Di sản văn hóa cho phép đưa hiện vật ra nước ngoài nhằm mục đích nghiên cứu, bảo quản, giao lưu văn hóa, đã tạo điều kiện cho các bảo tàng Việt Nam tổ chức triển lãm các bộ sưu tập cổ vật có giá trị ở nước ngoài, góp phần đáng kể trong việc giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa Việt Nam và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Nổi bật là các cuộc trưng bày về “Việt Nam: Những cuộc hành trình của con người - tinh thần và linh hồn” (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức tại Mỹ, năm 2004), về “Việt Nam: Quá khứ - Hiện tại” (do 13 bảo tàng phối hợp tổ chức tại Bỉ và Áo, trong 2 năm 2003 - 2004), về “Kho tàng nghệ thuật điêu khắc Chămpa” (do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chămpa, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại Pháp, năm 2005 - 2006), về “Tác phẩm mỹ thuật Việt Nam” (do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức tại các nước Nhật Bản, Luých-xăm-bua...).
Để tăng cường điều kiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo tàng, từ năm 2002, 5 đơn vị trong ngành đã được phép tham gia tổ chức ICOM (Cục Di sản văn hóa, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Hải dương học, Bảo tàng Địa chất Việt Nam) và tổ chức ICOM Việt Nam đã được thành lập. Năm 2005, tiếp tục cho phép 06 đơn vị trong ngành tham gia ICOM. Từ khi thành lập, ICOM Việt Nam đã có những hoạt động tích cực nhằm gắn kết hoạt động của các bảo tàng ở Việt Nam với cộng đồng các bảo tàng quốc tế, nhất là trong các dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng hàng năm.
Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Đã và đang triển khai nhiều chương trình hợp tác với Văn phòng UNESCO Hà Nội, với Quỹ Ford, Quỹ Sida của Thuỵ Điển, Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, Cơ quan di sản văn hóa của Bỉ và với Viện Smithsonian (Hoa Kỳ) như: Dự án “Hành trình văn hóa: làng nghề thủ công” đang được triển khai với Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp; dự án “Mê Kông: dòng sông kết nối các nền văn hóa” gồm nhiều nước thuộc khu vực sông Mê Kông tham gia, được tổ chức tại Washington vào năm 2007. Qua các chương trình hợp tác quốc tế này, văn hóa Việt Nam nói chung, di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam nói riêng được thế giới biết đến và ngược lại, người dân Việt Nam cũng có cơ hội được hiểu biết thêm về các nền văn hóa trên thế giới, nhận thức về các giá trị di sản văn hóa và trách nhiệm tham gia bảo vệ các giá trị đó cũng như năng lực của cán bộ trung ương và địa phương được nâng lên đáng kể.
Những hạn chế cần khắc phục
Hạn chế trong tổ chức thực hiện Luật Di sản văn hóa
Mặc dù nhận thức của các ngành, các cấp và của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của di sản văn hóa và trách nhiệm của toàn xã hội đối với di sản văn hóa đã được nâng cao nhưng chưa sâu sắc và toàn diện, chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình cụ thể.
Chúng ta còn lúng túng trong việc xứ lý để đảm bảo sự hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di sản văn hóa trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Cá biệt có nơi, có lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu, dự án phát triển kinh tế cao hơn các mục tiêu về văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng.
Việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa còn chậm và chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, chưa theo kịp những yêu cầu và đòi hỏi cấp bách do thực tế sôi động của đất nước đang đặt ra.
Hạn chế ở một số mặt công tác cụ thể
Một số quy định của Luật Di sản văn hóa cần được sửa đổi, điều chỉnh:
Tiếp tục hoàn thiện về phân cấp quản lý di sản văn hóa thật cụ thể, rõ ràng và sát với yêu cầu cũng như khả năng thực tế của các cấp, các ngành. Đồng thời, phải xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành để tăng cường vai trò cũng như tính chủ động của các cấp, các ngành trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tuy nhiên, không có nghĩa sẽ phân cấp toàn diện, vì việc phân cấp quản lý toàn diện di tích cho cơ sở trong khi các đơn vị này chưa hay không có cán bộ chuyên môn nghiệp vụ hay chuyên môn nghiệp vụ yếu đã và sẽ gây ra những thiệt hại không nhỏ cho di tích.
Hoàn thiện những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và định mức tu bổ di tích để kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan ban hành những quy định riêng giải quyết được những yêu cầu mang tính đặc thù của công tác tu bổ di tích. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý về tu bổ di tích, đội ngũ cán bộ tư vấn - thiết kế - giám sát, đội ngũ cán bộ kỹ thuật - công nhân lành nghề của chúng ta còn mỏng, năng lực không đồng đều nên đã dẫn đến chất lượng quản lý và tu bổ di tích không đáp ứng những yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhiều địa phương còn quan niệm sai lầm cho rằng công tác tu bổ, tôn tạo di tích chỉ như các hoạt động xây dựng cơ bản đơn thuần, từ đó dẫn đến việc phân cấp cho cấp huyện thậm trí là cấp xã, làm chủ đầu tư một số công trình tu bổ di tích, trong khi lực lượng cán bộ chuyên môn của cấp huyện, xã về lĩnh vực này rất ít kinh nghiệm, làm ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ chuyên ngành pháp luật, kỹ sư, kiến trúc sư thiết kế tu bổ di tích còn rất mỏng, cần được nâng cao cả về số lượng và chất lượng để hướng tới mục tiêu hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi về từng lĩnh vực chuyên sâu.
Còn nhiều di tích bị tu sửa sai quy cách do buông lỏng quản lý và do sự thiếu hiểu biết của chính quyền địa phương, nhân dân, các vị trụ trì đền chùa và cả đơn vị thi công trong việc muốn di tích bền vững (muốn thay mới toàn bộ cho bền chắc nên phản đối việc áp dụng các biện pháp nối vá, gắn chắp...), muốn di tích được “xứng tầm” hay vì chạy theo lợi nhuận đã d